Bảo lãnh chính phủ là bảo lãnh có tính pháp lý cao nhất tại Việt Nam. Mức bảo lãnh không vượt quá 80% tổng mức đầu tư của chương trình, dự án... Đó là một trong những nội dung về cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ được quy định trong Nghị định số 15/2011/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 5/4/2011.

Bảo lãnh chính phủ không quá 80% tổng mức đầu tư của dự án

Bảo lãnh chính phủ là bảo lãnh có tính pháp lý cao nhất tại Việt Nam. Mức bảo lãnh không vượt quá 80% tổng mức đầu tư của chương trình, dự án... Đó là một trong những nội dung về cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ được quy định trong Nghị định số 15/2011/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 5/4/2011.

Căn cứ vào kết quả thẩm định phương án tài chính của chương trình, dự án và tình hình tài chính của doanh nghiệp, Bộ Tài chính quy định mức phí bảo lãnh cho từng chương trình, dự án tùy theo mức độ rủi ro, nhưng tối đa không vượt quá 1,5%/năm trên tổng số dư nợ bảo lãnh.

Mức bảo lãnh không vượt quá 80% tổng mức đầu tư của chương trình, dự án, trong đó đã bao gồm tất cả các chi phí vay có liên quan, trừ trường hợp dự án, công trình trọng điểm, dự án lớn có tính cấp bách và có tầm quan trọng đặc biệt cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Mức phí bảo lãnh cho từng chương trình, dự án tùy theo mức độ rủi ro, nhưng tối đa không vượt quá 1,5%/năm trên tổng số dư nợ bảo lãnh.

(Ảnh chỉ mang tính minh hoạ)

Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị cấp bảo lãnh đầy đủ và hợp lệ từ người vay, người phát hành trái phiếu theo quy định, Bộ Tài chính tiến hành thẩm định phương án tài chính và hồ sơ đề nghị cấp bảo lãnh.
Hệ số trả nợ vay của phương án cơ sở điều chỉnh bằng 1 trở lên ngay từ năm đầu tiên đi vào sản xuất thì dự án được đánh giá là có rủi ro thấp và hoàn toàn có khả năng trả nợ ngay từ năm đầu tiên; hệ số trả nợ vay càng cao thì dự án, chương trình phải trả mức phí bảo lãnh càng thấp và ngược lại.

Cụ thể, đối với các dự án có hợp đồng bao tiêu sản phẩm đảm doanh thu ổn định và các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh: hệ số ≥1,15 thì mức phí bảo lãnh là 0,25%/năm; 1,10 ≤ hệ số ≤1,15 thì mức phí bảo lãnh là 0,4%/năm; 1,05 ≤ hệ số ≤1,10 thì mức phí bảo lãnh là 0,5%/năm…; 0,65≤ hệ số ≤0,7 thì mức phí bảo lãnh là 1,3%/năm. Chi tiết về tỷ lệ giữa hệ số trả nợ vay và mức phí bảo lãnh được quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/4/2011; bãi bỏ Quyết định số 272/2006/QĐ-TTg ngày 28/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ.

Hà Anh


Hà Anh


Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Các tin đã đưa

Tin liên quan

Xem nhiều

Hãy chia sẻ thông tin này với bạn bè!
Tắt [X]