Dinh dưỡng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống. Nhiều nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống giữa thực phẩm, thức ăn, tình trạng dinh dưỡng, lối sống có liên quan đến phát sinh một số loại ung thư nào đó, vì vậy việc phòng ngừa ung thư bằng chế độ dinh dưỡng là một hứa hẹn đầy triển vọng.

Dinh dưỡng phòng ngừa ung thư

Dinh dưỡng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống. Nhiều nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống giữa thực phẩm, thức ăn, tình trạng dinh dưỡng, lối sống có liên quan đến phát sinh một số loại ung thư nào đó, vì vậy việc phòng ngừa ung thư bằng chế độ dinh dưỡng là một hứa hẹn đầy triển vọng.

Dinh dưỡng phòng ngừa ung thư

Ăn nhiều rau, quả giảm lượng calo, kiểm soát cân nặng là một cách ngừa ung thư tốt nhất.

Dinh dưỡng phòng ngừa ung thư

Nếu yếu tố di truyền và một số yếu tố thuộc môi trường tự nhiên là những yếu tố khó can thiệp để phòng bệnh, thì sự thay đổi lối sống và phương pháp dinh dưỡng khỏe mạnh có thể phòng được ung thư. Cụ thể như sau:

Giữ cân nặng ở mức hợp lý, sao cho BMI = 18.523. Người thừa cân, béo phì có nguy cơ ung thư cao hơn người có BMI bình thường, họ hay bị ung thư vú và ung thư nội mạc tử cung.

Ăn uống đa dạng và phong phú, đây là biện pháp quan trọng nhất trong tất cả các biện pháp dinh dưỡng phòng bệnh ung thư.

Chú trọng đến các thực phẩm có nguồn gốc thực vật nhất là đối với chất đạm. Giảm thịt đỏ (heo, bò, cừu, chó, dê), nên ăn thịt trắng (gà, vịt). Giảm chất béo nói chung, nhất là chất béo bão hòa (saturated fat).

Ăn nhiều rau xanh và quả tươi, đặc biệt các loại rau quả có màu cam tươi, đỏ đậm, xanh đậm.

Gia tăng các thực phẩm có lượng chất xơ cao như rau, củ, quả, ngũ cốc thô nguyên hạt.

Hạn chế tối đa các chất cồn như rượu, bia.

Giảm thiểu các thực phẩm mặn, thực phẩm bảo quản nhiều muối như dưa chua, cà muối, thịt xông khói...Hạn chế thực phẩm giàu đạm có nitrit, nitrat như dăm bông, xúc xích, lạp xưởng.

Ưu tiên sử dụng thực phẩm tươi, hạn chế dùng thực phẩm công nghiệp và thực phẩm bảo quản dài ngày. Tuân thủ các điều kiện bảo quản thực phẩm. Loại bỏ thực phẩm hư hỏng, ôi thiu, ẩm mốc.

Chế biến thực phẩm bằng những phương pháp đơn giản, nhanh với nhiệt độ thấp như hấp, luộc, xào nhanh. Không nên làm chín thực phẩm trực tiếp trên lửa như nướng, quay, xông khói. Loại bỏ thực phẩm đã bị cháy khét.

Không dùng lại dầu chiên đã qua sử dụng.

Không được hút thuốc lá, kể cả thụ động.

Khám sức khỏe định kỳ để phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm nhất có thể. Tiên lượng bệnh và sức khỏe của bệnh nhân ung thư phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh khi phát hiện và tiến hành điều trị.

Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư

Bệnh ung thư tác động đến tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần dinh dưỡng mỗi ngày ở bệnh nhân theo các cấp độ rất khác nhau phụ thuộc loại ung thư, di căn hay chưa di căn, xâm lấn tại chỗ hay hạch vùng, tình trạng dinh dưỡng cơ bản của bệnh nhân, phương pháp điều trị (phẫu thuật, hóa trị, xạ trị), giai đoạn điều trị, đáp ứng của khối u với điều trị.

Nhu cầu năng lượng, nhu cầu và tỉ lệ các chất dinh dưỡng hàng ngày được tính toán dựa trên các công thức theo chuyển hóa cơ bản thông thường. Cần theo dõi và điều chỉnh liên tục để duy trì cân nặng ở mức hợp lý nhất.

Chế độ ăn cho bệnh nhân ung thư gần giống với chế độ ăn bình thường của họ. Cho ăn đầy đủ chất bột đường và chất đạm, giảm chất béo và gia vị không cần thiết, không ăn đồ hộp, không ăn các thức ăn chế biến sẵn như thức ăn nhanh. Ăn nhiều các thực phẩm chứa chất xơ như rau quả, thực phẩm ngũ cốc thô như gạo lứt, bánh mì đen, khoai củ... Bổ sung nhiều vitamin và khoáng chất bằng rau củ quả tươi. Nếu không cung cấp đủ năng lượng bằng các thức ăn thông thường, có thể sử dụng thêm các loại chế phẩm bổ sung dinh dưỡng sau các bữa ăn chính hay dùng vào các bữa phụ.

Các thay đổi về dinh dưỡng và ăn uống trong giai đoạn trị liệu tích cực là nhằm cải thiện cảm quan về dinh dưỡng cho bệnh nhân để hỗ trợ về tâm lý và giảm bớt các tác dụng khó chịu của trị liệu. Chú ý đến vệ sinh an toàn thực phẩm, tránh nhiễm khuẩn cũng như các yếu tố sinh ung thư trong thực phẩm. Cần thực hiện:

Chọn thức ăn lạnh, nguội, tránh thức ăn nóng trong trường hợp có sự thay đổi vị giác, khứu giác cũng như bị đau rát miệng, hầu, họng, thực quản do điều trị hay do nhiễm trùng.

Không nên ăn thức ăn sống, cứng, thô, chiên giòn, nướng giòn. Nên chế biến thức ăn một cách đơn giản. Nên nấu mềm, cắt nhỏ, nghiền nhuyễn, xay nhỏ thức ăn.

Phải chia nhỏ các bữa ăn, 9-10 bữa/ngày. Các bữa phụ xen kẽ các bữa chính trong ngày sao cho đủ nhu cầu năng lượng hàng ngày. Làm như vậy có tác dụng giảm cảm giác buồn nôn, nôn ói. Bữa ăn sáng nên chiếm năng lượng khẩu phần cao nhất trong ngày, chiếm khoảng 1/3 tổng năng lượng hàng ngày.

Nên tránh thức ăn có mùi, vị mạnh. Tránh thức ăn có vị chua ở bệnh nhân bị viêm loét niêm mạc đường tiêu hóa.

Nấu vừa đủ ăn. Nên ăn trong vòng 2 giờ sau chế biến. Chỉ dùng thực phẩm đã được nấu chín hoặc đã được tiệt trùng kỹ bằng ôzôn (rau xanh, trái cây tươi).

Nên bổ sung vitamin và các khoáng chất vi lượng ở bệnh nhân có chán ăn và suy kiệt với liều nhu cầu hàng ngày. Bổ sung vitamin C và kẽm liều cao hơn ở bệnh nhân có vết thương lớn, hay bị nhiễm trùng huyết.

Tuyệt đối không dùng phụ gia thực phẩm trong chế biến thức ăn. Hạn chế các thực phẩm chế biến sẵn như đồ hộp, thức ăn nhanh và các loại thực phẩm có thể bảo quản dài ngày như thịt xông khói, lạp xưởng, xúc xích. Chọn thực phẩm tươi mới, hạn chế thực phẩm qua bảo quản rất dễ bị nhiễm trùng đường tiêu hóa. Bảo vệ vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tin liên quan:

Theo SK&ĐS




Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Các tin đã đưa

Tin liên quan

Xem nhiều

Địa phương

Xem thêm TP Hà Tĩnh

Hãy chia sẻ thông tin này với bạn bè!