Chựa ngồi dựa lưng vào cột nhà, quay mặt ra lửa. Lửa có lúc cười ro ro, rào rào. Chựa cả ngày chẳng buồn cất tiếng. Chựa cứ ngồi như thế, thi thoảng lại duỗi chân ra cho khớp gối kêu răng rắc vài tiếng. Cứ độ chục phút lại răng rắc một lần.

Lửa cười lửa khóc

Chựa ngồi dựa lưng vào cột nhà, quay mặt ra lửa. Lửa có lúc cười ro ro, rào rào. Chựa cả ngày chẳng buồn cất tiếng. Chựa cứ ngồi như thế, thi thoảng lại duỗi chân ra cho khớp gối kêu răng rắc vài tiếng. Cứ độ chục phút lại răng rắc một lần.

Ngày ngày trôi đi, Chựa chỉ có mỗi việc thò ra thụt vào đôi cẳng chân gầy nhẳng từ hai ống quần rộng bùng nhùng. Chựa nghiện lửa. Nghiện nặng đấy. Chựa ngồi lửa từ mơ sáng đến khuya khoắt. Bất kể đông hè, bếp nhà sàn chẳng khi nào hết lửa. Chựa tốn củi lắm. Củi con, củi cháu trên sàn đều đã ngoan ngoãn thành tro hết, Chựa vẫn ngồi. Vừa hôm nào khúc gỗ còn dài thườn, chềnh ềnh ngáng hết lối đi thì đêm nay chỉ còn có một đẫn thập thò cửa bếp. Cũng sắp xong tháng Giêng rồi.

Người Tày vùng này vốn xem cây gỗ khô chắc nhất, dài nhất và vừa vặn nhất trong bếp là nơi thần bếp ngự. Cây gỗ có nhiệm vụ giữ lửa cho bếp nhà sàn hết cả tháng Giêng. Thần bếp giữ cho hơi ấm nhà sàn đi hết ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, đời này qua đời khác. Chựa là người hay ngồi gần khúc củi có thần bếp. Các dâu thường ý tứ ngồi xa hoặc đi đường vòng, dù vội cũng không dám bước qua khúc củi có thần bếp bao giờ. Thần bếp được trọng vọng mời về ngự ở bếp chính nhà sàn vào chiều ba mươi tết hằng năm. Trong nhà tôi, người được trọng vọng chỉ sau thần bếp chính là Chựa.

Chựa là người sinh ra ông nội. Chựa là vị trưởng tộc mẫu mực được con cháu chắt chút chít của cả dòng họ và bà con trong làng, ngoài xã kính nể. Hai mươi tuổi, chựa đã lấy tên con làm tên mình, rồi chựa lần lượt dùng đến tên cháu, tên chắt... Đã tròn trăm tuổi, chựa như cái cây đã cạn nhựa, trong khi bản Pung, cái bản mang tên chựa thì ngày càng trẻ ra mơn mởn vì cuộc sống của bà con ngày một khấm khá, đủ đầy.

Minh họa: Nguyễn Đăng Phú

Bố rất thương chựa, đi thì thôi, về đến nhà là xộc ngay lại chỗ chựa ngồi, cầm bàn tay chựa lên nắn nắn từng khấc xương. Hễ thấy lửa cụt, lửa đuối là vội đi lấy củi cho thêm vào. Thế nên mọi quyết định lớn bé trong nhà, trong họ, chựa đều bàn bạc và tin tưởng giao phó cho bố. Ngày ba bữa, mẹ bưng cơm cho chựa trên một cái mâm nhỏ bằng gỗ sồi. Những thứ nạc nhất trong con cá là phần chựa. Những thứ ngon nhất trong con gà cũng phần chựa. Nhiều bữa, cả nhà qua quýt rau măng thì chựa cũng vẫn có quả trứng gà rán và một cốc rượu.

Chựa là người ăn đầu tiên trong nhà. Một mình chựa ngồi một mâm không chung đụng với ai, ngay cạnh chỗ nằm. Chỗ ấy cũng có một bếp lửa. Những lúc chựa ốm yếu, lửa đi theo chựa thôi, chứ sức đâu mà chựa theo được lửa. Trong bản có việc, trong họ có cúng, có giỗ, có đám cưới, đám ma, người lớn, trẻ con đi hết thì cũng nhớ đem phần về cho chựa. Có xôi, có thịt rồi vẫn phải nổi lửa nấu bát canh nóng cho chựa. Từ lúc lớn dậy, tôi đã thấy thế. Tất cả mọi việc cứ trôi đi tuần tự như nước chảy trong máng lần.

Chỗ chựa nằm, thi thoảng mẹ lại lật đệm lên quét dọn, lau chùi sạch sẽ. Người đi xa về thăm, ai có gì biếu chựa, mẹ để lên cái hòm gỗ nhỏ dưới cuối đệm, dành riêng cho chựa. Trên cơ thể chựa, mọi thứ giác quan đều đã rệu rã, nhưng trời vẫn giữ cho chựa hai hàm răng chắc chắn để chựa có thể tiếp nhận hết mọi sự quan tâm của con cháu. Răng khỏe mà bụng dạ lại không khỏe. Chựa ăn vào một lúc là bụng sôi òng ọc phản đối. Thế nhưng con cháu cứ muốn, cứ ép chựa ăn. Chựa phải ăn trước mặt họ, họ mới vui lòng và yên tâm mà về. Mẹ vất vả với cái bụng của chựa lắm. Trời nóng nực, ngày nào mẹ cũng tắm cho chựa một lần. Trời rét, lúc nào thấy chựa ngọ ngoạy trong chiếc áo bông cũ như con sâu tìm cách chui ra khỏi kén thì mẹ tắm cho chựa. Trời nóng hay lạnh thì nước tắm cho chựa cũng phải là nước vỏ cây núc nác pha ấm. Hôm nào đó nắng ráo, đun nước lá thuốc cho cả nhà thì chựa là người được mẹ tắm cho đầu tiên. Rồi mới đến ông bà nội tuổi đã tám mươi, mắt mờ tai nghễnh ngãng. Sau cùng mới là thằng cò hai tuổi, con trai anh Khiêm.

Anh Khiêm và chị dâu là người nhà nước. Anh Khiêm là cán bộ văn hóa xã, chị dâu là y sỹ làm ở trạm y tế. Anh chị giống như khách quý trong nhà. Vì anh đã nói từ trước khi lấy vợ rồi. Anh lấy vợ cho anh chứ không lấy cho bố mẹ hay ông bà nội và chựa. Anh chị đi chào về hỏi người già rất ngoan ngoãn lễ phép. Nhưng tôi chưa từng thấy chị dâu bưng cho chựa chậu nước rửa mặt hay lấy cái tăm mời ông bà nội bao giờ. Chứ đừng nói là chị tắm, giặt cho chựa hay chăm sóc chựa lúc ốm đau, ỉa dầm đái dây ra khắp chăn, khắp đệm. Chị ghê chựa, ghê người già đã đành, chị còn ghê luôn cả cái chổi, con dao, cái cuốc và cái chuồng lợn. Chị lên rừng sợ vắt, xuống suối sợ đỉa. Thế nên bốn năm làm dâu, chị vẫn là khách quý. Với anh Khiêm, vợ anh cư xử như thế chẳng có gì sai. Chăm sóc người già ư? Mẹ chăm sóc là vì bổn phận của mẹ phải thế. Quét nhà ư? Dưới thành phố, sức lao động của con người đã được giải phóng bằng người giúp việc hoặc máy hút bụi. Lấy củi ư? Bây giờ người ta dùng lửa ga để nấu nướng và sưởi ấm, quạt mát bằng điều hòa. Chăn nuôi lợn ư? Đó là ở những trang trại lớn, nuôi theo dây chuyền công nghiệp. Nấu nướng ư?... Anh Khiêm luôn giải đáp đầy đủ những thắc mắc của người thân về vợ mình. Những lời ấy xa lạ với chựa, với ông bà nội và bố mẹ tôi, những người cả đời sống trong nhà sàn, núp bóng rừng già và uống nước máng lần. Cái tiếng lú vợ của anh bay khắp bản gần bản xa. Người ta bảo, những người trai nào lấy được vợ đẹp quá thì dễ bị cái đẹp làm cho mê lú.

Đứa em gái mười bảy tuổi của tôi học theo chị dâu nhanh lắm. Nó không bao giờ ngồi gần chựa nữa dù hồi bé, chựa cõng nó suốt. Nó không sờ tay vào cái áo đầy mùi khói của chựa, cũng không nhìn lâu vào đôi mắt mờ đục, đầy dử của chựa. Dạo trước, con mèo già của nhà bỏ vào rừng không về, anh Khiêm bảo con mèo hóa cáo rồi. Nó thắc mắc: “Nếu chựa cứ già thêm nữa thì hóa con gì nhỉ”. Có đêm đi chơi về, thấy chựa ngồi lù khù bên lửa, nó giật mình hét toáng như thể gặp ma. Chị ghê việc gì nó cũng không mó tay vào việc ấy. Đồ ăn thức đựng trong bếp để chỗ nào, còn hay hết nó cũng vờ vệt không biết, hệt như chị dâu. Chị dâu em chồng, ngấm ngầm lấy mắt chia việc. Thế mà bố biết, bố mượn rượu để chửi. “Chúng mày là cái lũ bất hiếu”. Mỗi lần bố chửi, tất cả lặng lẽ chuồn hết. Chỉ có mẹ “đại diện” cho cái lũ “bất hiếu”, ngồi nghe. Và để cửa nhà yên ả, tốt nhất là mẹ tự làm lấy hết. Trước, bố vốn có tiếng là người yêu chiều vợ. Nhưng từ khi lên chức bố chồng, bố cay nghiệt với mẹ hẳn, cứ không vừa ý là chửi, là đánh. Bố chửi cả cái lũ “chúng mày” nhưng lại chỉ đánh một mình mẹ. Đánh ác lắm. Ác ở chỗ là bố chỉ đánh mẹ trước đông đủ con cái trong nhà mà không đứa nào bênh được. Không bênh thì bố đánh một. Có người bênh, bố đánh ba.

Bố là người con trai duy nhất mà ông bà miệt mài đẻ đến lần thứ chín mới được. Từ bé, bố đã được ông bà nội và chựa rất mực chiều chuộng. Chỉ cần bố nặng mày, sa mặt một chút là không khí cả nhà căng thẳng, ngột ngạt. Làm vợ một “con giời” như bố, mẹ phải nhẫn nhịn nhiều lắm. Làm cháu dâu một trưởng tộc đã tê liệt hết mọi cảm giác như chựa, mẹ phải vất vả nhiều lắm để lúc nào chựa cũng chỉn chu, thơm tho trước cháu con, họ hàng. Làm con dâu của hai người tuổi đã cao ngất mà không được ở vào thế thượng tôn như ông bà nội, mẹ chưa từng được ngơi nghỉ bao giờ.

Cứ mỗi lần bố uống rượu và có biểu hiện chuẩn bị “dạy dỗ” vợ con là vợ chồng anh Khiêm dắt nhau sang nhà ngoại để tránh mọi thương tổn tinh thần. Nhà vợ anh Khiêm ở bên bản Mười. Cái bản người Tày giàu có và sung túc nhất bên bờ suối Nậm Pung này. Con gái Tày bên Mười giỏi giang, học hành đỗ đạt làm cán bộ rất nhiều. Đã thế, cô nào cũng trắng trẻo xinh đẹp. Anh Khiêm và chị dâu rất đẹp đôi. Thế nên thằng cháu nội của mẹ kháu khỉnh lắm. Cả nhà giục tôi lấy vợ. Đã bao mùa hội cốm qua đi, con gái Tày xinh đẹp, chăm chỉ, giỏi giang vùng này chẳng thiếu, nhưng tôi chưa thật lòng mê tiếng chày của ai. Thấy tôi thần tượng mẹ, anh Khiêm cười bằng cái khịt mũi. Cười đầy ngụ ý.

Chưa bao giờ mẹ xa nhà quá một ngày một đêm. Trước khi đi đâu, dù chỉ chốc nhát, mẹ đều chuẩn bị sẵn củi lửa để chựa ngồi. Để lửa giữ chân chựa. Chựa ngồi lửa và lấy da thịt làm cữ. Cứ thấy ran rát là chựa biết lửa đã bò ra khỏi bếp, chựa lại lấy tay ẩy lửa vào. Hôm ấy, không biết cái chân của chựa tê tái thế nào mà lại không thấy rát. Thế là lửa cứ âm ỉ đi qua háng chựa, lửa bén cả vào quần và bén sang cái đệm lau. Nóng quá, chựa còn kịp tụt quần ra. Nhưng cái đệm lau cháy lan vào vách nứa, chuẩn bị leo lên mái thì chựa lòa không nhìn thấy. Mọi người đi làm vắng. Mẹ đang xúc cá dưới ao trước cửa nhà thấy khói um vội chạy về. Chuyến thứ nhất mẹ cõng chựa chạy xuống cổng. Chuyến thứ hai mẹ cõng ông nội. Chuyến thứ ba mẹ cõng bà nội. Chuyến thứ tư mẹ mới bế được thằng cháu nội đang thích thú cười khanh khách trong cũi. Còn chút sức lực nào thì mẹ dùng để kêu gào bà con hàng xóm. Rồi cũng tai qua nạn khỏi nhưng vách nhà chỗ chựa nằm và một phần mái bếp bị cháy. May mà tiết đầu xuân, trời còn rí rách mưa. Bố chửi. “Làm gì thì cũng phải để ý đến người già chứ? Hay mày muốn người ta chết hết để mày rảnh tay?”. Mẹ tức tưởi khóc và bỏ lên rừng. Ngồi cho muỗi rừng nứa đốt no thì về, chứ mẹ chả dám ăn lá độc mà chết như những người đàn bà khác trong bản. Kể từ hôm ấy, bố không cho nhóm bếp chỗ chựa nằm nữa. Bờ vai gầy guộc của mẹ lại trĩu thêm những chuyến dìu chựa từ chỗ nằm ra gian khách sưởi lửa và từ chỗ sưởi về chỗ nằm, ngày mấy lượt. Cũng kể từ hôm ấy, chựa không nói năng, đòi hỏi điều gì. Như thể chựa xấu hổ và cảm thấy có lỗi với con cháu vì cái việc sống dai của mình.

Những hôm mẹ ốm mệt, nằm bệt bạt, bố chỉ ngó qua xem mẹ có ốm thật không. Mẹ ốm vài hôm là trời cho khỏi, bắt khỏi. Sau tiếng gọi “Mẹ Khiêm đâu” là mẹ phải có mặt ngay, không được chậm trễ. Mẹ lại cần mẫn cơm nước, hầu hạ và tiếp sức cho ba ngọn lửa cạn dầu heo bấc trong nhà. Ấy thế mà nhiều lần tôi bắt gặp bố nhìn mẹ như soi xét, đong đo. Có lẽ bố nghi ngờ gần đây mẹ đã nghĩ ra cách gì đó để đối phó với số phận.

Hôm ấy, bố gọi tôi ngồi xuống cạnh bếp. Người Tày vốn coi ngọn lửa, thần bếp là thiêng nhất nên thề thốt, hứa hẹn gì đều lấy ngọn lửa chứng cho lòng dạ. Bố nói nhỏ với tôi. “Từ giờ, việc cơm nước của chựa, bố giao cho mày”. Rồi bố khẽ đánh mắt ra ngoài cửa sổ. Chỗ ấy, em gái tôi đang ngồi cạnh khung cửi, tỉ mỉ gỡ những cái hạt đen nhánh ra khỏi những túm bông trắng muốt. Rồi bố lại hất hàm về phía buồng chị dâu, buồng mẹ. Có vẻ như bố không tin bất cứ người đàn bà nào trong nhà này. Có vẻ như cái mác “thầy giáo” của tôi được bố tin tưởng.

Một hôm, ở trường về sớm, tôi bắt gặp mẹ đang dùng vạt áo thằng cháu nội lau nước mắt mình. Thấy tôi, mẹ cúi xuống, vờ thổi lửa và húng hắng ho như thể phải khói. Đã từ lâu, tôi không còn được nhìn sâu vào mắt mẹ. Mẹ luôn tránh những cái nhìn từ tôi. Tôi vội vàng trở ra cầu thang ngồi. Bà nội thường bảo, chín bậc cầu thang nhà sàn được ví như chín cái vía đàn bà. Bậc thang trên cùng mà tôi đang ngồi là cái vía của những người đàn bà được làm mẹ. Vì thế những đứa trẻ ngóng mẹ đi làm hay đi chợ về thường ngồi ở bậc thang trên cùng, nơi cao nhất, để có thể nhìn xa nhất. Hồi bé, chúng tôi vẫn thường ngồi trên bậc thang này mà nhìn ra cánh đồng lúa rộng miên man phía trước nhà. Hễ thấy một bóng áo chàm, tôi lại rối rít gọi mẹ. Giờ mẹ ở trong bếp, từ hôm cháy nhà, suốt ngày mẹ luẩn quẩn trong bếp nhưng tôi vẫn ngồi đó để nghĩ về mẹ.

“Chựa gầy đi thì phải”. Nghe bố nói vậy, tôi gắng để ý. Nhưng cả chục năm nay chựa chỉ có da với xương thôi, giờ chựa có gầy thêm nữa thì cũng vẫn là xương với da. Tôi chỉ biết ngày ngày thay mẹ ba lần bưng cơm cho chựa để bố yên tâm và thực lòng tôi rất thương chựa. Chựa vẫn ngồi kia, bình thản nghênh lửa. Lửa vẫn cười ro ro. Ông nội bảo “Lửa cười người no”. Thì đấy, mùi xôi nếp tỏa ngào ngạt. Mùi thịt gà luộc thơm ngậy đi khắp năm gian nhà, ngấm vào từng thớ lá cọ, từng nút lạt buộc trên mái. Đến con mọt trên vách cũng ngừng nghiến răng. Đến con chuột cũng phải chui ra khỏi hốc cột mà ngẩn ngơ. Bà nội, mẹ, chị dâu ngồi quây quần bên bếp. Người xé măng, người nhặt kiệu, người cạo khoai. Ba thế hệ làm dâu ngồi chung với nhau trong yên ắng. Không gian nhà sàn, khi không có tiếng nói cười, giống như một khu rừng lúc vào thu. Tôi treo cặp lên cột, muốn xua cái không khí ảm đạm ấy đi. “Nhà mình có khách hả mẹ?”. Mẹ gật đầu, kiệm lời. “Ừ, thông gia sắp sang chơi con ạ”. Cuộc đối thoại ngắn ngủi của hai mẹ con giống như tiếng của những chiếc lá vàng đậu xuống thảm cỏ khô.

Thông gia là bố mẹ của chị dâu. Bà ấy chỉ trạc tuổi mẹ tôi, khoảng bốn nhăm gì đấy, còn ông ấy thì lớn hơn bố tôi độ hai tuổi, nhưng cho phải phép, họ vẫn gọi bố mẹ tôi bằng anh chị. Đặt chân lên nhà sàn, sau khi rửa chân ngoài máng nước, việc đầu tiên là thông gia tiến vào bếp chính để chào và hỏi thăm chựa. Họ biếu chựa một miếng cao trăn để chựa ngâm rượu uống cho giãn gân giãn cốt. Sau đó họ vào buồng, hỏi thăm ông bà nội. Họ biếu ông bà nội tôi một ít tiền thì phải vì ông bà vẫn cậm kịch lên xuống cầu thang mỗi ngày và vẫn thích tiêu tiền. Sau đó bố tôi đưa ông bà thông gia đến cái chiếu hoa trải sát cửa sổ gian khách để ngồi trà nước và chuyện trò cho thoáng. Ông thông gia gặp câu chuyện thời sự làng nước của bố tôi thì như hổ về với đàn. Bà thông gia nhấp một hụm trà chiếu lệ, khen cánh đồng lúa trước cửa nhà xanh tốt chiếu lệ rồi trở ra bếp. Bà tranh thủ chuyện trò với con gái và nựng nọt thằng cháu ngoại đẹp như tranh của bà.

Nhà tôi không đông người, nhưng cứ có một vài khách là phải sắp bốn mâm cơm. Chựa một mâm ở ngay cạnh chỗ nằm. Ông bà nội một mâm ở trên cái phản gỗ kê ngay phía dưới ban thờ, cách mâm cơm khách chỉ có một cái bếp lửa ở chính gian giữa mà chỉ đàn ông con giai khỏe mạnh mới được ngồi cùng khách. Còn tất cả đàn bà, trẻ con trong nhà thì ngồi ngay ngoài bếp nấu nướng, nơi sặc mùi măng chua bốc ra từ những cái vại sành bịt không kín và tiếng nước chảy từ máng lần vào chum lóc bóc suốt ngày đêm.

Bữa cơm khách ấm áp, ngọt ngào với rượu nếp cái và những câu hát vui đối đáp đến hai giờ chiều mới xong. Bố treo cây đàn tính lên vách rồi tạm ngả lưng. Anh Khiêm chống mảng đưa bố mẹ vợ về bên kia suối. Đứa em gái vừa giúp chị dâu dọn dẹp bát đũa vừa bậm bục. Mẹ đang chuẩn bị lá thuốc và cọ nồi nước tắm, cho chính mẹ hay ai đó trong nhà thì tôi cũng không rõ. Không thấy chựa ngồi lửa như mọi khi, cũng không thấy chựa ho tiếng nào từ trưa tới giờ. Tôi đi vào chỗ nằm của chựa. Không thấy hơi thở khò khè của chựa, cũng không thấy tiếng bụng sôi òng ọc của chựa như những bận nhà có cỗ. Tôi nắm lấy tay chựa lắc lắc. Bàn tay chựa lạnh ngắt…

Bố đặt tay lên ngực và bụng chựa một lát rồi lắc đầu. Mắt bố vằn lên. “Trưa nay đứa nào dọn mâm ra, chựa có ăn uống gì không?”. Mẹ nhìn lướt qua những đứa con. Không có ai đối mặt với cơn thịnh nộ của bố cả. Mẹ cúi đầu, lí nhí. “Có, chựa có ăn mà’. “Bốp”. “Ăn mà chựa thế này hả?”. Mẹ nhận ngay một cái tát phũ phàng của bố. Việc này cũng thường thấy. Nhiều lúc bố đánh mẹ là để giải thoát mình ra khỏi cơn say. Cứ tỉnh rượu đã, rồi sai đúng bàn sau.

Bố đã tỉnh hẳn và mẹ lại bẽ bàng nhận thêm mấy cái tát nữa trước đông đủ cả nhà. “Tại sao chúng mày nỡ đối xử với chựa như thế? Hả cái lũ bất hiếu?”. Mẹ đang ốm dở, người yếu ớt nên ngã dúi dụi xuống sàn. Thằng con anh Khiêm khóc thét lên.

Chựa nằm ngửa trên đệm, mắt dim dim mãn nguyện. Bố gục đầu trên ngực chựa. Cái áo bông khô cong của chựa nuốt chửng những giọt nước mắt lã chã đau đớn của bố. Tay bố cứ đấm xuống sàn nhà phình phịch như thể chính bố mắc tội bỏ đói, bỏ rét chựa đến chết. Đôi bàn tay run rẩy, mẹ đánh hỏng cả chục que diêm. Mẹ đang cố nhóm lửa cạnh chỗ nằm của chựa. Một lần nữa, tôi cố tìm ánh mắt mẹ mà không thấy. Tôi ân hận vì những cái tát của bố trong giờ phút hệ trọng này. Tại sao tôi không nói với bố, rằng tôi là người dọn mâm ra?

Khúc củi nuôi thần bếp vừa hóa thân thành cục than đỏ lừ. Tháng Giêng vừa vặn hết. Tôi thấy giá buốt dâng ngập năm gian nhà sàn. Giá buốt như phả ra từ cây cột chựa vẫn ngồi dựa lưng. Mặc dù ông nội đã ngồi ở đó, chỉnh tề với khăn đội đầu mới, quần áo mới và đôi giày vải cũng mới. Ông đưa hai bàn tay lên ngang mặt bấm bấm, đếm đếm. Sau cái hắng giọng đầy uy quyền của ông, tất cả mọi người trong nhà đều tề tựu đông đủ bên bếp lửa. Ông nhìn quanh một lượt. Từ bà nội tôi tóc bạc như túm bông trên đầu đến thằng con anh Khiêm đầu trắng hếu chưa đủ tóc. Ông nói nhỏ, chậm từng tiếng một. “Thứ nhất, ngày kia mới được ngày vào đám. Thứ hai…” Ông ngần ngừ một lát, đôi mắt không còn tinh tường khẽ liếc qua con dâu và cháu dâu. Tôi có cảm giác ông đang sợ sệt điều gì. Giọng ông khè khè, khó nhọc. “Bỏ cái tục lệ ấy đi. Ta đã quyết”. Bố nghiến răng, tay nắm chặt, định cất lời thì đám đàn bà trong nhà đã đồng loạt đứng dậy, tản mát. Tôi thấy nước mắt ông nội rỉ ra loang loáng. Còn nước mắt bố vo tròn từng giọt lăn nhanh qua đôi gò má rám nắng, tuột rơi xuống sàn nhà dát bương nhẵn thín.

Đàn lợn thấy người thì rống lên ầm ầm đòi bữa. Tôi đi đến nồi cám lợn to đậy vung để ngoài cửa chuồng. Dù mấy hôm nữa chúng lần lượt bị hóa kiếp thành thực phẩm nhà đám thì cũng phải cho chúng ăn cái đã. Lâu lắm rồi tôi mới cho lợn ăn. Việc này, vốn chỉ là của mẹ. Mấy hôm nay mẹ ốm, chắc ai đó cho lợn ăn thay mẹ. Phải cho chúng ăn thật no. Mọi việc vẫn phải diễn ra thật bình thường trong hai ngày, như thể chựa vẫn nằm đó ngủ. Múc cám ra máng, tôi rụng rời tay chân khi thấy lẫn trong cám ngô vàng óng là miếng bánh gio rán, nắm xôi màu tím. Cả những miếng thịt gà nạc, những miếng thịt lợn muối và ít rau đắng xào tỏi. Mùi rượu xộc lên. Đó là bữa trưa của chựa mà chính tay tôi bưng vào, nhưng ai là người dọn ra và vùi chúng vào nồi cám lợn thì tôi không biết.

Bầy lợn sục sạo trong máng mò tìm thức ăn của người một cách thành thục. Khi không mò được gì nữa, chúng hếch mõm, chống hai chân trước lên văng chuồng nhìn chủ và réo lên vòi vĩnh. Thì ra quãng thời gian chựa bỏ bữa lâu chóng không rõ nhưng cũng đủ tạo cho mấy con vật nuôi tưởng chừng ngốc nghếch một thói quen. Giờ tôi mới hiểu, năm gian nhà sàn mênh mông này, ấm hay lạnh là do những người đàn bà chứ không phải do lửa từ ba cái bếp vẫn đỏ rực suốt năm suốt tháng.

Tôi nắm chặt lấy vạt áo bà nội. “Tục lệ gì vậy hả bà?”. Bà lật đật tra thêm củi vào bếp, mắt hấp háy nhìn kĩ để cố phân biệt tôi và anh Khiêm, hai thằng cháu trai sinh đôi giống nhau như hai giọt nước. “Con trai họ Chu nhà này từ đời xưa đến giờ chỉ kén vợ đẹp. Thế nên mới có cái tục đánh mẹ chồng để uốn nắn con dâu mới về. Để đuổi con ma lú ra khỏi người thằng con trai nếu không sẽ bị cái đẹp sai khiến, làm cho mụ mị. Mẹ mày, đẹp người, đẹp cả nết nên bà chỉ bị ông đánh có một lần. Nay, thằng Khiêm cưới vợ mấy mùa cốm rồi, mẹ mày vẫn bị đánh. Rõ khổ. Nó lú vợ quá. Chỉ có vợ nó mới dám hại chết chựa thôi. Chẳng biết nề nếp gia đình, rồi sẽ về đâu. Con ơi, đừng thấy hoa đẹp mà cố hái cho bằng được…”.

Trước khi biến báo với họ hàng gần xa, bà con hàng xóm về sự ra đi của tộc trưởng, tất cả những người đàn ông trong gia đình tôi ngồi lại bên bếp chính. Mỗi người bám đuổi một suy nghĩ. Tôi cố tưởng tượng ra hình hài con ma lú. Con ma từng ẩn nấp trong người chựa rồi đến nội. Nó cũng từng ở trong bố tôi, giờ nó ở lỳ trong người anh Khiêm. Không biết anh vừa lẩm bẩm câu gì mà bếp chợt bùng lên ngọn lửa xanh lét ma quái. Lửa như những mũi kiếm sắc chồm lên cao, đâm vào căn gác trĩu chịt bồ hóng. Bồ hóng thức giấc, lóe đỏ lần cuối cùng trước khi kịt đen vĩnh viễn. Bố tôi nhíu mày trước những âm thanh lạ lùng mà ngọn lửa phát ra. Ông nội rút một cây củi đang cháy, dụi xuống đám tro, giọng ông hao hụt. Lửa khóc rồi.

TỐNG NGỌC HÂN

Theo Tạp chí Văn nghệ Quân đội


TỐNG NGỌC HÂN


Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Các tin đã đưa

Tin liên quan

Xem nhiều

Địa phương

Xem thêm TP Hà Tĩnh

Hãy chia sẻ thông tin này với bạn bè!