Thị trường
Giá tiêu hôm nay 7/4/2026: Đi ngang tại các vùng trồng
Giá tiêu hôm nay 7/4/2026 tiếp tục đi ngang tại tất cả các vùng trồng trọng điểm, dao động trong khoảng 138.000 – 139.000 đồng/kg. Trên thị trường thế giới, tiêu đen Indonesia giảm nhẹ 0,13%, các nguồn cung khác giữ nguyên giá.
Giá tiêu hôm nay 7/4/2026 tại thị trường trong nước
Theo khảo sát ngày 7/4/2026, giá tiêu tại các vùng trồng trọng điểm không có biến động so với phiên hôm qua. Đắk Lắk và Đắk Nông duy trì mức giá cao nhất 139.000 đồng/kg. Bà Rịa - Vũng Tàu ở mức 138.500 đồng/kg. Gia Lai và Bình Phước cùng giao dịch tại 138.000 đồng/kg – mức thấp nhất trong nhóm.
| Khu vực | Giá trung bình (đồng/kg) | Thay đổi |
|---|---|---|
| Đắk Lắk | 139.000 | 0 |
| Đắk Nông | 139.000 | 0 |
| Bà Rịa - Vũng Tàu | 138.500 | 0 |
| Gia Lai | 138.000 | 0 |
| Bình Phước | 138.000 | 0 |
Việc giá tiêu đi ngang liên tiếp cho thấy thị trường đang trong trạng thái cân bằng giữa cung và cầu. Người nông dân và thương lái đang có tâm lý chờ đợi tín hiệu rõ ràng hơn từ thị trường xuất khẩu trước khi có những điều chỉnh lớn.

Giá tiêu đen thế giới ngày 7/4/2026
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia (Lampung) đứng ở mức 7.106 USD/tấn, giảm 0,13% tương đương 9 USD/tấn so với ngày hôm trước.
Tại các quốc gia sản xuất hàng đầu khác, giá tiêu nhìn chung vẫn ổn định. Tiêu đen Brazil ASTA 570 được báo giá ở mức 6.150 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia (Kuching) ASTA đạt 9.300 USD/tấn – mức cao nhất toàn cầu.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu dao động trong khoảng 6.000 – 6.100 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l, mức thấp nhất trên thị trường quốc tế.
| Tên loại | Giá ngày 7/4 (USD/tấn) | % thay đổi |
|---|---|---|
| Tiêu đen Lampung (Indonesia) | 7.106 | -0,13 |
| Tiêu đen Brazil ASTA 570 | 6.150 | - |
| Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA | 9.300 | - |
| Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) | 6.000 | - |
| Tiêu đen Việt Nam (550 g/l) | 6.100 | - |
Giá tiêu trắng thế giới ngày 7/4/2026
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia đạt 9.362 USD/tấn, giảm 0,13% tương đương 12 USD/tấn so với ngày hôm trước.
Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam đứng ở mức 8.900 USD/tấn, còn Malaysia niêm yết 12.200 USD/tấn – cả hai đều không thay đổi so với phiên trước.
| Tên loại | Giá ngày 7/4 (USD/tấn) | % thay đổi |
|---|---|---|
| Tiêu trắng Muntok (Indonesia) | 9.362 | -0,13 |
| Tiêu trắng Malaysia ASTA | 12.200 | - |
| Tiêu trắng Việt Nam | 8.900 | - |
Nhập khẩu hồ tiêu tháng 3/2026: Tăng mạnh 108,8% so với cùng kỳ
Theo thống kê từ Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), tháng 3/2026, Việt Nam đã nhập khẩu 10.313 tấn hồ tiêu các loại, gồm 9.441 tấn tiêu đen và 872 tấn tiêu trắng. So với tháng 2/2026, lượng nhập khẩu tăng 66,2%; so với cùng kỳ tháng 3/2025, mức tăng lên tới 108,8%. Xu hướng gia tăng nhập khẩu rõ rệt này nhằm phục vụ chế biến và tái xuất trong bối cảnh nguồn cung nội địa hạn chế.
Về doanh nghiệp, khối các doanh nghiệp VPSA nhập khẩu chiếm 30,5% tổng lượng. Hoạt động nhập khẩu tập trung vào một số đơn vị lớn gồm Liên Thành (702 tấn), Olam Việt Nam (651 tấn), Nedspice Việt Nam (439 tấn), Gia vị Việt Nam (277 tấn), KSS Việt Nam (270 tấn) và Ptexim Corp (250 tấn).
Xét theo thị trường, nguồn cung chủ yếu đến từ Campuchia với 6.716 tấn, chiếm 65,1% tổng lượng nhập khẩu. Tiếp theo là Brazil đạt 2.199 tấn (21,3%) và Indonesia đạt 1.023 tấn (9,9%).
Quý I/2026: Nhập khẩu hồ tiêu tăng gần 119%, đạt 21.201 tấn
Tính chung trong quý I/2026, Việt Nam đã nhập khẩu 21.201 tấn hồ tiêu, tăng 118,9% so với cùng kỳ 2025, kim ngạch đạt 121,0 triệu USD. Con số này tương đương khoảng 32% khối lượng xuất khẩu trong cùng kỳ.
Nguồn cung nhập khẩu: Campuchia tăng gấp 9 lần
Nguồn cung chủ yếu đến từ Campuchia với 11.686 tấn (chiếm 55,1%), tiếp theo là Brazil đạt 4.601 tấn (21,7%) và Indonesia đạt 3.538 tấn (16,7%). Đáng chú ý, lượng nhập khẩu từ Campuchia tăng gấp 9 lần so với cùng kỳ năm trước – mức tăng đột biến. Brazil tăng nhẹ 5,5%, còn Indonesia giảm 4,6%.
Doanh nghiệp nhập khẩu: Hai cái tên mới chiếm 45% thị phần
TM Gia Bảo Khang là đơn vị nhập khẩu lớn nhất trong quý I với 6.566 tấn, chiếm 31% tổng lượng nhập khẩu. Xếp thứ hai là TM Minh Phát với 2.992 tấn, tương đương 14,1%. Hai doanh nghiệp này cộng lại chiếm tới 45,1% tổng lượng hồ tiêu nhập khẩu của Việt Nam. Đáng chú ý, cùng kỳ năm ngoái, cả hai doanh nghiệp này đều chưa tham gia hoạt động nhập khẩu.
Nhóm doanh nghiệp ngoài VPSA nhập khẩu 13.953 tấn hồ tiêu trong quý I, tăng gấp 4,5 lần so với cùng kỳ năm trước và chiếm 65,8% tổng lượng nhập khẩu. Các doanh nghiệp thuộc VPSA nhập khẩu 7.248 tấn, tăng 10% và chiếm 34,2%.
Nhận định xu hướng giá tiêu sắp tới
Giá tiêu hôm nay tại thị trường nội địa đang trong trạng thái ổn định, chưa có tín hiệu đột phá. Tuy nhiên, việc nhập khẩu hồ tiêu tăng mạnh gần 119% trong quý I/2026, đặc biệt từ nguồn Campuchia, cho thấy nhu cầu chế biến và tái xuất đang rất lớn. Sự xuất hiện đột biến của các doanh nghiệp mới tham gia thị trường nhập khẩu cũng là yếu tố cần theo dõi sát, vì có thể tác động tới cán cân cung – cầu và giá tiêu trong thời gian tới.