Thị trường

Giá gạo nguyên liệu tăng mạnh 400 đồng/kg, thị trường lúa Đồng bằng sông Cửu Long đi ngang

Kim Ngân05/05/2026 09:33

Tại phiên giao dịch ngày 5/5, giá gạo nguyên liệu tại khu vực miền Tây tăng từ 250 đến 400 đồng/kg, trong khi giá lúa tươi duy trì ổn định do nguồn cung dần cạn kiệt.

Thị trường lúa gạo ngày 05/05 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận sự tăng trưởng ở phân khúc gạo nguyên liệu với mức tăng cao nhất đạt 400 đồng/kg. Ngược lại, giá lúa tươi duy trì trạng thái ổn định trong bối cảnh nguồn cung thu hẹp và hoạt động giao dịch tại các kho diễn ra khá trầm lắng.

Diễn biến giá lúa tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Theo báo cáo từ các cơ quan chuyên môn tại An Giang, giá lúa tươi các loại hiện vẫn duy trì biên độ dao động hẹp. Cụ thể, các giống lúa chủ lực như OM 18 và Đài Thơm 8 đang được thương lái thu mua ổn định quanh mức 6.000 – 6.100 đồng/kg. Các dòng lúa khác cũng ghi nhận mức giá tương đương so với phiên giao dịch trước đó.

Loại lúaGiá thu mua (VND/kg)
Lúa OM 54515.600 – 5.700
Lúa IR 504045.400 – 5.500
Lúa OM 345.100 – 5.200
Nếp tươi IR 46257.300 – 7.500
Nếp khô9.500 – 9.700

Tại các địa phương như Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cà Mau, nguồn cung lúa tươi hiện không còn dồi dào khiến thị trường giao dịch có phần chậm lại. Một số kho bắt đầu chuyển hướng sang tìm kiếm nguồn lúa khô, đặc biệt ưu tiên các giống chất lượng cao như Đài Thơm 8 và Japonica để phục vụ nhu cầu lưu trữ và chế biến.

Thị trường gạo nguyên liệu tăng giá, gạo bán lẻ ổn định

Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long diễn biến trái chiều ngày 5/5

Trái ngược với sự bình lặng của thị trường lúa tươi, phân khúc gạo nguyên liệu xuất khẩu ghi nhận những tín hiệu khởi sắc rõ rệt. Đáng chú ý nhất là gạo CL 555 với mức tăng 400 đồng/kg, hiện dao động từ 9.000 – 9.200 đồng/kg. Gạo nguyên liệu IR 504 cũng ghi nhận mức tăng 250 đồng/kg, lên ngưỡng 8.600 – 8.700 đồng/kg. Riêng gạo thành phẩm IR 504 đã vượt mốc 10.000 đồng/kg.

Trong khi đó, thị trường gạo bán lẻ tại các chợ dân sinh và cửa hàng không ghi nhận biến động lớn về giá. Gạo Nàng Nhen tiếp tục giữ vị trí cao nhất với mức 28.000 đồng/kg. Nhóm gạo thơm như Hương Lài và gạo Nhật duy trì trong khoảng 20.000 – 22.000 đồng/kg. Các dòng gạo phổ thông phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày phổ biến từ 13.000 – 17.000 đồng/kg.

Cạnh tranh giá gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam đang duy trì ở mức cạnh tranh so với các đối thủ lớn trong khu vực. Gạo Jasmine hiện được chào bán trong khoảng 496 – 500 USD/tấn, trong khi gạo 5% tấm dao động từ 490 – 500 USD/tấn. Phân khúc gạo 100% tấm giữ mức 335 – 339 USD/tấn.

Để so sánh, gạo 5% tấm của Thái Lan hiện đang giao dịch ở mức 390 – 394 USD/tấn, còn gạo cùng loại của Ấn Độ có giá thấp hơn đáng kể, dao động từ 349 – 353 USD/tấn. Sự chênh lệch này cho thấy gạo Việt Nam vẫn giữ được vị thế về chất lượng và giá trị tại các thị trường trọng điểm mặc dù nguồn cung nội địa đang bước vào giai đoạn cuối vụ.

Kim Ngân