Thị trường
Thách thức hạ lãi suất cho vay khi nhu cầu vốn toàn xã hội lên tới 38,5 triệu tỷ đồng
Tín dụng tăng nhanh hơn huy động đẩy tỷ lệ LDR lên 112-114%, tạo sức ép lên chi phí vốn ngân hàng giữa lúc nhu cầu đầu tư 2026-2030 cần tới 38,5 triệu tỷ đồng.
Yêu cầu tiếp tục tiết giảm chi phí và phấn đấu giảm thực chất lãi suất cho vay đang được Chính phủ đặt ra vô cùng cấp thiết với ngành ngân hàng. Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng tốc với nhu cầu vốn trung và dài hạn kỷ lục cho các dự án hạ tầng trọng điểm, áp lực cân đối kỳ hạn và chi phí vốn của hệ thống tổ chức tín dụng ngày càng khắt khe.
Áp lực cân đối kỳ hạn khi tín dụng vượt tốc độ huy động
Theo dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến ngày 31/7, tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với thời điểm cuối năm 2025. Tình trạng tăng trưởng tín dụng vượt tốc độ tăng trưởng tiền gửi đã diễn ra liên tục. Bình quân giai đoạn 2021–2025, tốc độ tăng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động vốn 3,8 điểm phần trăm. Tính đến giữa tháng 6 năm nay, khoảng cách này vẫn duy trì ở mức khoảng 2 điểm phần trăm.
Hệ quả là tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của hệ thống ngân hàng đã duy trì ở mức cao, khoảng 112–114%. Dù thanh khoản toàn hệ thống vẫn được bảo đảm, việc nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn trong khi nhu cầu vay vốn lại là trung và dài hạn đang buộc các ngân hàng phải cạnh tranh huy động vốn, khiến chi phí đầu vào khó giảm sâu.

Để mở rộng khả năng cung ứng vốn, NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính khi xác định LDR lên 50%, đồng thời nâng tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn lên 40%. Những giải pháp này ước tính giúp hệ thống đáp ứng thêm khoảng 1,7 triệu tỷ đồng cho 35 dự án trọng điểm. Tuy nhiên, việc tăng sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn tiếp tục làm gia tăng rủi ro lệch kỳ hạn cho các ngân hàng thương mại.
Bài toán nguồn vốn 38,5 triệu tỷ đồng giai đoạn 2026–2030
Thống kê sơ bộ cho thấy quy mô vốn của các chương trình, dự án hạ tầng lớn như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, các tuyến metro, cao tốc, điện hạt nhân, sân bay và cảng biển đã lên tới khoảng 670–690 tỷ USD. Trong giai đoạn 2026–2030, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước tính cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng (tương đương gần 1.500 tỷ USD), gấp hơn hai lần so với 5 năm trước. Tỷ lệ đầu tư trên GDP dự kiến phải tăng từ 33% lên khoảng 40%.
Hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings dự báo tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam có thể tiến tới mức 155% vào năm 2026. Con số này cao gấp ba lần mức trung vị 52% của các nền kinh tế có cùng mức xếp hạng tín nhiệm BB. Fitch cảnh báo việc duy trì tăng trưởng tín dụng ở mức cao trong thời gian dài có thể làm gia tăng rủi ro phân bổ vốn sai lệch và đẩy giá tài sản lên cao.
Khai thác thị trường vốn để giảm tải cho hệ thống ngân hàng
Các giải pháp tiết giảm chi phí, tăng cường chuyển đổi số chỉ hỗ trợ ngân hàng thu hẹp một phần biên lợi nhuận. Khi CPI bình quân 7 tháng đã tăng 4,39% và tỷ giá vẫn chịu sức ép, việc nới lỏng chính sách tiền tệ quá mức có thể chuyển áp lực sang lạm phát và ổn định vĩ mô.
Hiện dư nợ trái phiếu Chính phủ mới tương đương gần 22% GDP, trong khi tồn ngân quỹ nhà nước đạt hơn 1,4 triệu tỷ đồng. Để giảm bớt gánh nặng cho hệ thống ngân hàng thương mại, các dự án hạ tầng có vòng đời hàng chục năm cần được định hướng tài trợ nhiều hơn qua kênh phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp và huy động vốn chủ sở hữu trên thị trường vốn. Khi các nguồn vốn dài hạn được khai thác hiệu quả, áp lực lên hệ thống tín dụng ngân hàng sẽ hạ nhiệt, tạo tiền đề bền vững cho mặt bằng lãi suất giảm thực chất.