245 năm trôi qua, thân thế và sự nghiệp Nguyễn Du vẫn sống mãi trong lòng quê hương và dân tộc. Với truyện Kiều - một áng văn kiệt tác bất hủ - ông đã làm rạng danh cho nền văn hóa nước Việt. Về lại xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) hôm nay, lần giở "cảo thơm" vô giá ở Khu lưu niệm và tìm lại những kỷ vật thời xưa, càng thấm đẫm nỗi đau nhân thế và tình yêu da diết con người với thiên nhiên của Nguyễn Du.

Cúi đầu tưởng nhớ vĩ nhân...

245 năm trôi qua, thân thế và sự nghiệp Nguyễn Du vẫn sống mãi trong lòng quê hương và dân tộc. Với truyện Kiều - một áng văn kiệt tác bất hủ - ông đã làm rạng danh cho nền văn hóa nước Việt. Về lại xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) hôm nay, lần giở "cảo thơm" vô giá ở Khu lưu niệm và tìm lại những kỷ vật thời xưa, càng thấm đẫm nỗi đau nhân thế và tình yêu da diết con người với thiên nhiên của Nguyễn Du.

Khu mộ đại thi hào

Tao nhân mặc khách đến với Tiên Điền đều cảm nhận được vẻ đẹp tự nhiên đầy quyến rũ: Từ Bến Giang Đình phóng tầm mắt nhìn sông Lam dạt dào sóng vỗ, trông lên ngọn núi Hồng Lĩnh thông xanh lồng lộng dưới trời mây trắng. Cái đẹp quê hương đã tích tụ và thổi vào hồn Nguyễn Du từ những ngày thơ ấu, người đã từng sống, người đã từng yêu để "Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn".

Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du tại Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh

Dẫu cất tiếng chào đời ở đất Thăng Long và qua đời đột ngột ở tuổi 55, tại kinh thành Huế, nhưng hồn cốt Nguyễn Du vẫn quay về với đất Tiên Điền, quay về với dòng họ Nguyễn. Dòng "họ trâm anh thế phiệt" không chỉ có Nguyễn Du mà còn sinh ra bao nhiêu bậc tài năng nổi tiếng, đầy quyền uy ở thế kỷ XVII.

Theo một người cháu đời thứ bảy của ông kể lại: Nguyễn Du qua đời vào ngày 16/9/1820 do nhiễm phải đại dịch tả trước lúc chuẩn bị lên đường đi sứ lần hai sang Trung Quốc. Thi hài Nguyễn Du được an táng tại xã An Ninh, huyện Quảng Điền, phủ Thừa Thiên Huế. Mùa hạ năm Giáp Thân (1824), đứa con trai của Nguyễn Du là Nguyễn Ngũ đã cải táng, để hài cốt cha mình vào một một chiếc tiểu sành, đưa về an táng tại quê nhà thuộc xứ Đồng Mát (thôn Lương Năm), sau lại dời sang xứ Đồng Thánh gắn với khu Nguyễn Du một thời sống tại Tiên Điền. Khoảng gần 1 thế kỷ sau, mộ thi hào lại được con cháu họ Nguyễn cải táng lại Đồng Cùng. Nguyễn Du ơi, bậc vĩ nhân sống đã lận đận, chết cũng chưa an lòng với nỗi buồn nhân thế!. Chỉ riêng phần mộ sau 3 lần dịch chuyển vẫn là "sè sè nắm đất bên đường", đến nỗi nhà thơ Vương Trọng thốt lên: "Dừng chân bên nấm mộ rồi/ Chưa tin mình đã tới nơi mình tìm". Nguyễn Du buồn nhưng không giận, bởi đất nước sau chiến tranh mọi người đều phải ăn mì hột thay cơm nên chưa có điều kiện để trùng tu di sản văn hóa dòng tộc họ Nguyễn và "nung vôi gánh đá tượng đài xây nên" cho người quá cố.

Bây giờ tôi bước vào thăm khu mộ Nguyễn đã không còn cảnh "Bàn chân cát bụi lối mòn nhỏ nhoi" nữa. Đường vào mộ Nguyễn Du rải nhựa phẳng lì. Mộ thi hào được xây dựng với kiến trúc gồm 3 phần: bàn thờ, phần mộ và vườn cây cảnh bao quanh. Phần bàn thờ có bia, tường hình cuốn thư, bia được ghép bằng đá thanh nổi bật dòng chữ "Danh nhân văn hóa thế giới - Đại thi hào Nguyễn Du". Quanh bia có khắc hình hoa văn thế kỷ XVIII theo luật đường triện, tường hình cuốn thư, biểu tượng cho sự nghiệp văn chương bất hủ của Nguyễn Du. Mộ xây theo hình chữ nhật, bao quanh mộ xây bằng những viên gạch hồng đặt nghiêng không trát. Phần giữa thân mộ trồng cỏ xanh.

Tôi chợt thấy sắc cỏ xanh rì như đồi, như bãi, như tiết thanh minh trong thơ Nguyễn Du tả. Dầu thảm cỏ khiêm nhường nhưng rất đỗi thiêng liêng như linh hồn Nguyễn Du ký thác vào đấy. Bao quanh khu mộ, bóng cây bạch đàn, phi lao lên ngan ngát và rúc rích trong vòm lá những tiếng chim từ đồng nội bay vào. Ngưỡng mộ tài năng của bậc vĩ nhân, hàng trăm văn nghệ sĩ, hàng ngàn du khách trong nước và bạn bè quốc tế đã đến thắp hương nguyện cầu và kính cẩn đặt vòng hoa lên mộ. Không ít những thi sĩ vào đêm nguyên tiêu (đêm hội thơ cả nước) hay kỷ niệm ngày sinh Đại thi hào đã đến đọc những bài thơ hay nhất của mình và rót chén rượu nồng tưới lên mộ, thầm mong ở chốn hư vô ông chia sẻ cùng hậu thế những vần cảm xúc lai láng quê nhà

"Cảo thơm lần giở"

Tôi bước vào khu Nhà bảo tàng Nguyễn Du không khỏi bồi hồi, xúc động với những kỷ vật được bài trí khoa học và ngăn nắp. Ông Nguyễn Bách - Phó Ban quản lý cho hay: " Khu văn hóa được các nhà thiết kế dựa dựa trên ý tưởng kiến trúc đình làng Việt Nam, gồm thư viện Nguyễn Du có diện tích 500m2, với phòng đọc đa chức năng. Hiện thư viện đã có hơn 2.000 đầu sách, trong đó không ít những cuốn sách quý cung cấp cho đọc giả hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Du, bàn về cái hay cái đẹp Truyện Kiều của nhiều học giả nổi tiếng trong nước ".

Trong khu văn hóa Nguyễn Du còn được có một hội trường thoáng mát, rộng rãi với 150 chỗ ngồi. Đây là nơi hội tụ những buổi sinh hoạt văn hóa đầy tính nhân văn với những chương trình đậm đà bản sắc truyền thống như lẩy Kiều, vịnh Kiều .. Nhà bảo tàng Nguyễn Du ở tầng 2 với diện tích rộng 100m2 . Kể từ ngày xây dựng đến nay đã gần 8 năm, cán bộ bảo tàng không thể nào nhớ nổi mình đã đón tiếp bao nhiêu lượt khách, chỉ biết rằng mỗi khách đến đây đều có một niềm hoài cảm riêng đối với bậc vĩ nhân này. Lúc đương thời Nguyễn Du đã từng hỏi "Ba trăm năm nữa ta đâu biết. Thiên hạ ai người khóc Tố Như" thì hôm nay, không cần đến quãng thời gian khá dài đó, con cháu lạc Hồng đất Việt đã khóc Tố Như rồi. Trái tim giàu lòng nhân nghĩa khắp hành tinh đã ngưỡng vọng Nguyễn Du rồi.

Bức Thư pháp Truyện Kiều do thầy giáo Nguyệt Đình trao tặng, được trưng bày tại Nhà bảo tàng

Không phải ngẫu nhiên mà Hội đồng hòa bình thế giới họp tại Béc Linh, năm 1964, đã công nhận Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới. Điều mà không ít người Việt Nam phải sửng sốt với cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ được tổng thống Giôn Xơn sám hối trên một tờ báo lớn nước Mỹ "Nếu tôi được đọc Truyện Kiều sớm hơn tôi sẽ không gieo rắc chiến tranh tang tóc cho Việt Nam". Vì sao cảo thơm "Truyện Kiều" lại rung động trái tim nhân thế đến vậy?. Vì sao "Giọt lệ cha ông cũng có ích với ta nhiều. Dẫu súng đạn nặng đường ra hỏa tuyến. Đi đường dài em giữ truyện Kiều theo". Có phải vì Truyện Kiều là "Tiếng thơ như tiếng mẹ ru những ngày", Truyện Kiều là món ăn tinh thần không thể thiếu nếu người còn nhận ra tình thương và lẽ phải, Truyện Kiều đã trở thành "Quốc hồn quốc túy" của nhân Việt Nam. Người Việt Nam đam mê Truyện Kiều tới mức lần giở những trang Kiều đẫm nước mắt ra bói toán xem vận hội của mình ra sao. Giọng lẩy Kiều loang cùng trăng, nước với con thuyền nhỏ lướt giữa dòng sông khuya, còn bài chèo Kiều thì xao xuyến trong đêm lễ hội. Cái đẹp trong Truyện Kiều với "rừng văn dệt gấm thêu hoa" ấy mãi còn hiện hữu.

Sự vĩ đại của Nguyễn Du với tác phẩm Truyện Kiều đã làm cho lớp hậu duệ thời đại "công nghiệp hóa" vẫn còn nặng nợ với ông. Họ lặng thầm năm này sang năm khác, miệt mài hơn cả nhà điêu khắc để đóng góp vào khu lưu niệm Nguyễn Du một kỷ vật có ích cho cuộc đời.

Nằm chính giữa phòng trưng bày truyền thống được đặt trang trọng trong lồng kính bản Truyện Kiều bằng thư pháp nặng 75 kg, rộng 1,2 mét, dài 1,6 mét. Người dành thời gian ròng rã suốt 6 tháng trời để tạo dựng lại thi phẩm Nguyễn Du là thầy giáo Nguyệt Đình từ cố đô Huế gửi tặng. Khi làm xong cuốn sách, ông đã tâm sự với bạn bè rằng: "Cả nhà tôi ba đời đều mê Kiều nên ý tưởng làm thư pháp Truyện Kiều đã được tôi nung nấu từ lâu. Cuốn sách này không chỉ ngưỡng vọng vĩ nhân, nó còn có tác dụng giáo dục con cháu.

Một nữ nhân viên trong khu lưu niệm bảo tôi: Anh xuống thư viện để xem bộ thi pháp dài độc nhất vô nhị này. Tôi theo chị xuống xem và thực sự sửng sốt chiều dài của nó tới 325,4 mét, dài đến nỗi khi vận chuyển tới đây, mấy gian phòng chưa có diện tích nào trải được cuốn thư pháp. Tác giả cuốn sách này là Trịnh Tuấn (quê ở xã Thượng Tín, Thọ Xuân, Thanh Hóa). Chàng trai trẻ xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo khổ, nhưng Truyện Kiều đã hút hồn anh từ thưở nằm nôi qua lời ru mẹ. Một duyên may, từ nhỏ Tuấn đã được thầy giáo làng tận tâm giúp đỡ và "mớm" cho ít chữ Hán.

Theo lời Trịnh Tuấn kể: "Thành công của cuốn thư pháp là cả một quá trình khổ luyện, tầm sư học đạo. Tuấn đã làm đủ mọi nghề (như bán báo, lượm ve chai, phu hồ, khuân vác) để có tiền học viết thư pháp ở Sài Gòn". Sự thử sức của Tuấn cùng 4 người bạn thân của anh sau 13 tháng miệt mài dồn sức, dồn tâm, dồn trí đã cho ra đời giải thư pháp Việt Ngữ kỷ lục. Điều thú vị cho người xem là thư pháp với độ dài tương ứng với 3.254 câu Kiều, mỗi câu thơ tương ứng 10cm giấy. Tôi tin rằng 2 cuốn thư pháp của thầy giáo Nguyệt Đình và Trịnh Tuấn sẽ là một đề tài hấp dẫn với du khách.

Dạo quanh vườn Nguyễn

Tôi lặng lẽ một mình đi quanh vườn Nguyễn Du, nơi phát tích dòng họ "trâm anh thế phiệt". Dấu tích của người xưa vẫn còn đọng lại nơi này, nhưng riêng tôi vẫn có điều gì đau đáu. Ngoài cây muỗm xanh cụ Nguyễn Quỳnh trồng đã 300 tuổi, khu vườn này vẫn chưa có một vườn Nguyễn thực sự thu hút du khách. Bên đàn tế bia đá Nguyễn Quỳnh nén nhang cắm đã lạnh hương khói từ lâu. Những dòng chữ trên bia đá đã mờ đi không rõ chữ.

Dường như Nghi Xuân vừa trải qua trận bão lớn nên cây trong vườn Nguyễn tiêu điều và xơ xác hơn. Nhiều cây xanh trong vườn bị bão quật đổ còn trơ lại những gốc cây chổng chơ. Bão đã qua lâu rồi nhưng thiếu người trông nom và chăm sóc vườn Nguyễn nên không ít thân cây vẫn nằm ì ra đó như con thú tật nguyền. Chỗ này gặp một đống tro than đen kịt, chỗ kia lổn nhổn những gạch vỡ và đá khô.. Vườn đã có những "báo động đỏ" về môi trường nhưng những ngôi nhà cũ như Đình chợ Trổ, nhà tư văn trong khu lưu niệm Nguyễn Du đến cả đền thờ Nguyễn Nghiễm - Thân phụ Nguyễn Du chưa được trùng tu lại cũng đang phế tích dần.

Tôi vào thăm đền Nguyễn Nghiễm, chỉ thấy ngoài đền màu xám đục của đôi voi phục với hai tượng tướng quân. Cửa được khóa lại bằng chiếc khóa dây xe đạp. Bên tôi, vài ba người khách lạ nữa muốn vào thăm đền nhưng đều phải lặng lẽ quay gót. Bất giác tôi lại nhớ tới lời tâm sự của ông Bùi Tùng Phong - cựu Chủ tịch huyện Nghi Xuân: " Điều hạn chế nhất của khu lưu niệm Nguyễn Du là tính quy hoạch tổng thể. Muốn hấp dẫn du khách phải biết nhìn nhận và lựa chọn thấu đáo những gì trong truyện Kiều mà Nguyễn Du đã từng mô phỏng". Ông nói thật có lý. Vườn Nguyễn khó gì mà không trồng cây mơ, cây mận, cây nhãn… Vườn Nguyễn khó gì không trồng hoa hải đường, hoa lựu và những loài hoa khác có trong thơ Nguyễn. Một con người yêu thiên nhiên đến mức cuồng nhiệt sẽ hài lòng với một khu vườn như thế. Khi vườn Nguyễn trỗi dậy, những vầng xanh mát rượi cây trái và ngào ngạt hương thơm của hoa. Nếu mời những nhà điêu khắc tài năng để đúc những pho tượng Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng Từ Hải và nhiều nhân vật khác trong truyện Kiều thì khu vườn ắt hẳn vui hơn, khoáng đạt hơn nhiều.

Hy vọng một ngày nào đó, tôi và đông đảo du khách gần xa sẽ được chiêm ngưỡng vườn Nguyễn như thế.

Phan Thế Cải


Phan Thế Cải

 {name} - {time}

 Trả lời

{body}
 {name}- {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Các tin đã đưa

Tin liên quan

Xem nhiều

Thời tiết

Địa phương

Xem thêm Thành phố Hà Tĩnh

Hãy chia sẻ với bạn bè!
Tắt [X]