Giá vàng chiều phiên 15/7/2026: Giá vàng SJC chốt tăng 1 triệu đồng/lượng
Giá vàng chiều 15/7/2026 tiếp tục phục hồi, giá bán vàng miếng đạt 148,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng thế giới lùi xuống 4.026,6 USD/ounce.
Giá vàng chiều nay 15/7/2026 giữ đà tăng, giá bán ra cao nhất đạt 148,5 triệu đồng/lượng
Tính đến 17h30 ngày 15/7/2026, thị trường vàng trong nước tiếp tục nối dài nhịp tăng xuất hiện từ đầu ngày. Giá vàng chiều nay 15/7/2026 tại phần lớn doanh nghiệp đã cao hơn hôm qua từ 700.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng. Mức bán ra tại nhóm thương hiệu lớn hiện tập trung quanh 148,2–148,5 triệu đồng/lượng.
Sau khi tăng thêm 1 triệu đồng/lượng, Công ty SJC đưa giá mua vàng miếng lên 145,5 triệu đồng/lượng. Ở chiều bán ra, mức giá mới nhất đạt 148,5 triệu đồng/lượng. Khoảng cách giữa hai đầu giao dịch vẫn được giữ ở 3 triệu đồng/lượng.
DOJI chốt giá vàng chiều nay ở mức 145,5 triệu đồng/lượng chiều mua vào và 148,5 triệu đồng/lượng chiều bán ra. Cả hai mức giá đều tăng 1 triệu đồng/lượng so với cùng thời điểm hôm qua. Biên độ mua – bán tại doanh nghiệp là 3 triệu đồng/lượng.
Cùng mức giá với SJC và DOJI, PNJ hiện mua vàng miếng ở 145,5 triệu đồng/lượng và bán ra với giá 148,5 triệu đồng/lượng. Doanh nghiệp đã cộng thêm 1 triệu đồng/lượng cho cả hai chiều, tiếp tục giữ chênh lệch giao dịch ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Mạnh Hải kết thúc lần điều chỉnh mới nhất với giá mua vào đạt 145,5 triệu đồng/lượng và bán ra ở 148,5 triệu đồng/lượng. So với ngày 14/7, mỗi chiều đều tăng 1 triệu đồng/lượng. Khoảng cách từ giá mua vào đến giá bán ra hiện là 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng miếng SJC tại Bảo Tín Minh Châu cũng tăng 1 triệu đồng/lượng ở cả hai đầu. Chiều mua vào được đưa lên 143,5 triệu đồng/lượng, còn chiều bán ra đạt 148,5 triệu đồng/lượng. Do giá mua vào thấp hơn nhóm doanh nghiệp lớn, chênh lệch tại BTMC bị nới rộng lên 5 triệu đồng/lượng.
Phú Quý hiện giao dịch vàng với giá mua vào 145 triệu đồng/lượng và bán ra 148,5 triệu đồng/lượng. Hai chiều cùng tăng thêm 1 triệu đồng/lượng so với hôm qua. Mức chênh lệch giữa giá mua và bán được xác lập ở 3,5 triệu đồng/lượng.
Mi Hồng là thương hiệu có nhịp tăng nhẹ hơn trong đợt cập nhật chiều nay. Giá mua vào tăng 800.000 đồng/lượng, lên 146,5 triệu đồng/lượng; giá bán ra cộng thêm 500.000 đồng/lượng, đạt 148 triệu đồng/lượng. Với khoảng cách chỉ 1,5 triệu đồng/lượng, Mi Hồng tiếp tục có biên độ mua – bán thấp nhất trong nhóm khảo sát.
| Giá vàng hôm nay | Ngày 15/7/2026 (Triệu đồng) | Diễn biến hôm nay (nghìn đồng/lượng) | ||
| Mua vào | Bán ra | Mua vào | Bán ra | |
| SJC | 145,5 | 148,5 | +1000 | +1000 |
| Tập đoàn DOJI | 145,5 | 148,5 | +1000 | +1000 |
| Mi Hồng | 146,5 | 148,0 | +800 | +500 |
| PNJ | 145,5 | 148,5 | +1000 | +1000 |
| Bảo Tín Minh Châu | 143,5 | 148,5 | +1000 | +1000 |
| Bảo Tín Mạnh Hải | 145,5 | 148,5 | +1000 | +1000 |
| Phú Quý | 145,0 | 148,5 | +1000 | +1000 |
| 1. DOJI - Cập nhật: 15/7/2026 17:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Giá vàng trong nước | Mua | Bán |
| Vàng miếng SJC DOJI Hà Nội | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Vàng miếng SJC DOJI HCM | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Vàng miếng SJC DOJI Đà Nẵng | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Vàng miếng Phúc Long DOJI Hà Nội | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Vàng miếng Phúc Long DOJI HCM | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Vàng miếng Phúc Long DOJI Đà Nẵng | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Nhẫn tròn Hưng Thịnh Vượng | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Vàng 24K DOJI | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| 2. PNJ - Cập nhật: 15/7/2026 17:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Giá vàng trong nước | Mua | Bán |
| Vàng miếng SJC 999.9 PNJ | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Nhẫn trơn PNJ 999.9 | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Vàng Kim Bảo 999.9 | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Vàng miếng PNJ - Phượng Hoàng | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| 3. BTMC - Cập nhật: 15/7/2026 17:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Giá vàng trong nước | Mua | Bán |
| Vàng miếng SJC BTMC | 143,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Vàng miếng Rồng Thăng Long BTMC | 143,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Nhẫn tròn trơn BTMC | 143,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Bản vị vàng BTMC | 143,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Trang sức Rồng Thăng Long 9999 | 141,500 ▲1000K | 146,500 ▲1000K |
| Trang sức Rồng Thăng Long 999 | 141,300 ▲1000K | 146,300 ▲1000K |
| 4. SJC - Cập nhật: 15/7/2026 17:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 145,500 ▲1000K | 148,500 ▲1000K |
| Vàng SJC 5 chỉ | 145,500 ▲1000K | 148,520 ▲1000K |
| Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 145,500 ▲1000K | 148,530 ▲1000K |
Giá vàng chiều nay 15/7/2026: Nhẫn 9999 dao động 147,5–148,5 triệu đồng/lượng
Tính đến 17h30 thứ Tư (15/7/2026), giá bán vàng nhẫn 9999 tại các doanh nghiệp lớn phổ biến trong vùng 147,5–148,5 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Mạnh Hải đang giữ mức bán ra cao nhất, còn Mi Hồng có chênh lệch mua – bán hẹp hơn rõ rệt so với các thương hiệu khác.
Công ty SJC đang mua vàng nhẫn 9999 với giá 144,5 triệu đồng/lượng. Chiều bán ra được đưa lên 148 triệu đồng/lượng, cao hơn giá mua vào 3,5 triệu đồng/lượng.
Tại Bảo Tín Mạnh Hải, vàng nhẫn được thu mua ở mức 145,5 triệu đồng/lượng và bán ra với giá 148,5 triệu đồng/lượng. Đây là mức bán cao nhất trong bảng khảo sát chiều nay. Khoảng cách giao dịch tại doanh nghiệp hiện là 3 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu áp dụng giá mua 143,5 triệu đồng/lượng đối với nhẫn Vàng Rồng Thăng Long. Mức giá dành cho khách mua vào là 147,5 triệu đồng/lượng, qua đó giữ chênh lệch giữa hai chiều ở 4 triệu đồng/lượng.
Giá nhẫn Hưng Thịnh Vượng 9999 tại DOJI hiện đạt 143,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 147,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra. Hai đầu giao dịch cách nhau 4 triệu đồng/lượng.
PNJ đưa ra mức giá tương đương DOJI và Bảo Tín Minh Châu. Doanh nghiệp mua vàng nhẫn với giá 143,5 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra ở mức 147,5 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua – bán được duy trì tại 4 triệu đồng/lượng.
Mi Hồng tiếp tục mua vàng nhẫn ở mức cao, đạt 146,5 triệu đồng/lượng. Giá bán ra được cập nhật tại 148,2 triệu đồng/lượng. Với biên độ chỉ 1,7 triệu đồng/lượng, đây là thương hiệu có khoảng cách mua – bán thấp nhất trong nhóm doanh nghiệp được khảo sát chiều 15/7/2026.
Giá vàng thế giới chiều nay 15/7/2026 mất gần 26 USD, áp sát mốc 4.000 USD/ounce
Tính đến 17h30 thứ Tư (15/7/2026), giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới đứng ở mức 4.026,6 USD/ounce. Kim loại quý giảm 25,9 USD/ounce, tương đương 0,62% so với ngày hôm qua, sau khi vừa có phiên phục hồi mạnh hơn 2%.
Với tỷ giá USD tại Vietcombank là 26.450 đồng/USD, giá vàng thế giới chiều nay 15/7/2026 quy đổi đạt khoảng 128,41 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và chi phí liên quan. So với giá bán vàng miếng SJC trong nước ở mức 148,5 triệu đồng/lượng, vàng quốc tế hiện thấp hơn khoảng 20,09 triệu đồng/lượng.

Diễn biến giảm trở lại của vàng xuất hiện khi giá dầu tiếp tục leo cao. Đà tăng trên thị trường năng lượng làm gia tăng nguy cơ lạm phát quay trở lại, từ đó khiến giới đầu tư thận trọng hơn với triển vọng lãi suất tại Mỹ. Khi lãi suất giữ ở mức cao, vàng thường gặp bất lợi do không tạo ra khoản lợi suất cố định.
Dữ liệu tại 8h05 GMT cho thấy vàng giao ngay giảm 0,7% xuống 4.025,12 USD/ounce. Giá vàng kỳ hạn tháng 8 trên thị trường Mỹ giảm mạnh hơn, mất 1% và lùi về 4.030,40 USD/ounce.
Trước nhịp điều chỉnh này, vàng từng tăng lên mức 4.100,49 USD/ounce trong phiên thứ Ba. Đây là đợt phục hồi mạnh từ đáy hai tuần, được hỗ trợ bởi báo cáo cho thấy chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ trong tháng 6 tăng chậm hơn so với dự báo.
Tác động tích cực từ báo cáo CPI không kéo dài lâu khi rủi ro trên thị trường dầu mỏ quay trở lại. Dầu thô đã có phiên tăng thứ ba liên tiếp sau quyết định của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc tái áp đặt phong tỏa hàng hải đối với các cảng của Iran.
Ông Donald Trump còn cảnh báo Mỹ có thể tấn công các nhà máy điện và cầu của Iran trong tuần tới nếu Tehran không đồng ý quay lại bàn đàm phán. Những diễn biến này làm gia tăng lo ngại nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, đặc biệt tại tuyến hàng hải quan trọng qua eo biển Hormuz.
Ông Kelvin Wong, chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại OANDA, cho rằng nhà đầu tư đang giảm dần sự quan tâm đối với báo cáo CPI vì số liệu này phản ánh các biến động trong quá khứ. Ngược lại, việc tàu thuyền qua eo biển Hormuz tiếp tục bị cản trở đang trực tiếp đẩy giá dầu lên và gây sức ép giảm đối với vàng.
Dù được xem là tài sản bảo vệ giá trị trước lạm phát, vàng vẫn có thể suy yếu nếu lạm phát cao khiến Fed duy trì chính sách lãi suất cứng rắn. Một số quan chức cấp cao của ngân hàng trung ương Mỹ đón nhận tích cực báo cáo lạm phát tháng 6, nhưng chưa sẵn sàng kết luận áp lực giá cả đã được kiểm soát.
Tâm điểm tiếp theo của thị trường là báo cáo Chỉ số giá sản xuất Mỹ dự kiến công bố trong ngày 15/7. Kết quả này có thể cung cấp thêm tín hiệu về xu hướng lạm phát, qua đó tác động đến dự báo chính sách tiền tệ trong những tháng cuối năm.
Công cụ CME FedWatch cho thấy giới giao dịch hiện đặt khả năng Fed tăng lãi suất trong tháng 9 ở mức khoảng 58%, giảm đáng kể so với mức 76% trước khi dữ liệu CPI được công bố. Xác suất lãi suất tăng vào tháng 12 vẫn được đánh giá quanh mức 80%.
Ở nhóm kim loại quý, bạc giao ngay giảm 0,8% xuống 58,18 USD/ounce. Giá bạch kim mất 0,2%, còn 1.628,06 USD/ounce, còn palladium đi lên 0,5% và đạt 1.311,84 USD/ounce.
