Ký ức về những chuyến tàu bão táp
Trong căn nhà nhỏ ở thôn Đồng Giang (xã Thạch Khê), ông Bùi Linh Diến (SN 1943) - nguyên chiến sĩ Lữ đoàn 125 Hải quân (còn gọi là “Đoàn tàu không số") kể cho tôi nghe câu chuyện về những năm tháng ông cùng đồng đội thực hiện nhiệm vụ trên con đường Hồ Chí Minh trên biển.
Tháng 6/1963, ông Diến nhập ngũ, được huấn luyện, tham gia tàu chiến đấu, trước khi được bổ sung vào Lữ đoàn 125 Hải quân, biên chế trên tàu 404 do đồng chí Trần Đoàn Hanh (quê Ninh Bình) làm thuyền trưởng. Từ đây, bắt đầu những ngày tháng ông cùng đồng đội của mình “cưỡi sóng, lướt gió” ngày đêm vận chuyển cán bộ, vũ khí, phương tiện vào tiếp viện cho chiến trường miền Nam.
Ông Diến cho biết: “Gọi là tàu không số vì mỗi tàu đều được ngụy trang, cải hoán thành tàu đánh cá bình thường và hoàn toàn không mang số hiệu cố định, chính thức. Khi neo đậu hoặc tiến vào các bến để “ăn hàng”, tàu không treo số. Khi ra ngoài khơi, tùy từng tình huống và khu vực đi qua, các tàu sẽ sử dụng số hiệu giả hoặc treo cờ của các quốc gia khác nhau để đánh lạc hướng địch. Đã lên tàu là xác định có thể hy sinh bất cứ lúc nào nên trước khi rời bến, chúng tôi thường được tổ chức lễ “truy điệu sống”.
Sau khi tiếp nhận lương thực, vũ khí từ căn cứ bí mật, tàu có thể phải lênh đênh trên biển hàng tháng trời. Khi nhận được lệnh an toàn từ đất liền, mới tìm cách tiếp cận điểm hẹn. Thế nhưng, không phải chuyến nào cũng thuận lợi. Có lúc không thể liên lạc với cơ sở tiếp nhận, tàu phải nhiều lần tiến vào rồi quay ra biển. Có chuyến bị tàu khu trục Mỹ và chính quyền Sài Gòn truy đuổi liên tục từ vùng biển phía Nam ra tận đảo Hải Nam (Trung Quốc).
Để bảo vệ bí mật, trên tàu, chỉ có sĩ quan chỉ huy và những người làm nhiệm vụ cơ yếu mới được cấp giấy, bút chì để ghi chép, liên lạc khi cần. Ngay cả thư gửi về gia đình của các chiến sĩ cũng phải được chỉ huy kiểm duyệt, tự tay niêm phong trước khi gửi đi. Mỗi con tàu được trang bị khoảng 1 tấn thuốc nổ, kíp điểm hỏa bố trí trong buồng chỉ huy, sẵn sàng kích nổ để phi tang khi cần thiết.
Giữa những chuyến hải trình sinh tử, bên cạnh ý chí hoàn thành nhiệm vụ, niềm tin và lý tưởng cách mạng cũng là điểm tựa tinh thần của những người lính. Với ông Diến, một trong những ký ức thiêng liêng nhất đời lính là giây phút được đứng vào hàng ngũ của Đảng ngay trên con tàu không số vào tháng 12/1969.
“Khi được đứng trước lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc, đứng trước các anh em đồng chí tuyên thệ là giây phút thiêng liêng nhất cuộc đời tôi. Càng xúc động, tự hào hơn khi nó diễn ra ở một nơi đặc biệt - đường Hồ Chí Minh trên biển. Đó là động lực để tôi tiếp tục chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao” - ông Diến bồi hồi nhớ lại.
Sứ mệnh giữ vững biển trời quê hương
Nếu ông Bùi Linh Diến gắn bó với những chuyến tàu bí mật chi viện chiến trường trong những năm tháng kháng chiến ác liệt, thì người đồng đội Nguyễn Viết Ngũ (SN 1957, trú TDP 1, phường Thành Sen) lại tiếp nối hành trình ấy trong thời khắc lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và những năm tháng bảo vệ chủ quyền biển đảo sau ngày đất nước thống nhất.
Tháng 2/1975, khi vừa tròn 18 tuổi, dù người anh trai đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam chưa có tin tức, ông Ngũ vẫn quyết tâm lên đường nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, ông được bổ sung vào “Đoàn tàu không số”, tham gia vận chuyển lương thực, vũ khí phục vụ chiến dịch giải phóng, tiếp quản Sài Gòn; trực tiếp tham gia giải phóng quần đảo Trường Sa.
Ông Ngũ kể, sáng 28/4/1975, ông và các thuyền viên tàu 474 do đồng chí Phạm Nô (quê miền Nam) làm thuyền trưởng cùng một số con tàu khác xuất phát từ cảng Cam Ranh (Khánh Hòa) ra quần đảo Trường Sa. Đến rạng sáng 1/5/1975, đoàn tàu tiếp cận được đảo. Lúc này, trên đảo còn nhiều lính ngụy, tuy nhiên, đất liền đã được giải phóng nên chúng không dám chống trả quyết liệt. Ta nhanh chóng kiểm soát tình hình, hạ cờ ngụy quyền, thay bằng cờ Tổ quốc.
“Khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay giữa biển trời quê hương, chúng tôi không giấu được niềm vui sướng, tự hào. Hơn ai hết, những người lính Hải quân như chúng tôi thấm thía cái giá của hòa bình, độc lập và toàn vẹn chủ quyền biển đảo quê hương. Để có giây phút lá cờ ngạo nghễ tung bay giữa biển trời Tổ quốc, bao máu xương của đồng đội đã đổ xuống” - ông Ngũ không giấu được nỗi xúc động.
Sau khi giải phóng các đảo, "Đoàn tàu không số" lại tiếp tục những chuyến vượt sóng, vượt gió để chở nước sạch, lương thực, vũ khí từ đất liền ra tiếp tế cho cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ bám trụ, canh giữ đảo. Tháng 8/1978 - 1/1981, ông Ngũ được cử tham gia khóa đào tạo thuyền trưởng tại Học viện Hải quân (Nha Trang). Sau khi tốt nghiệp, ông được giao phụ trách tàu 485, đảm nhận nhiệm vụ vận chuyển vật liệu, xe tăng phục vụ xây dựng, củng cố và bảo vệ đảo Bạch Long Vĩ; trực sẵn sàng chiến đấu, tuần tra bảo vệ chủ quyền, an ninh trên biển.
Năm 1986, ông được điều về đảm nhận công tác tác chiến miền biển của Quân khu IV, tiếp tục phục vụ trong quân ngũ đến năm 1992. Với những đóng góp của mình, ông được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; được trao tặng Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng. Ông Ngũ hiện là Phó Chủ tịch Hội Truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển Nghệ Tĩnh.
Thắm mãi nghĩa tình đồng đội
Trở về từ cuộc gặp mặt truyền thống kỷ niệm 65 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2026) do Hội Truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển Nghệ Tĩnh tổ chức tại phường Trường Vinh (tỉnh Nghệ An), ông Ngũ, ông Diến cùng những người đồng đội vẫn vẹn nguyên cảm xúc bồi hồi khi được gặp lại những người từng vào sinh ra tử trên cùng một con đường huyền thoại. Với họ, cuộc gặp không chỉ là dịp ôn lại những năm tháng chiến đấu hào hùng, mà còn là cơ hội để những người lính năm xưa sẻ chia, động viên nhau trong cuộc sống hôm nay.
Ông Ngũ cho biết, Hội Truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển Nghệ Tĩnh được thành lập năm 1998. Năm 2015, hội tách riêng thành hội của 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh; từ năm 2023 đến nay, 2 hội nhập lại thành Hội Truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển Nghệ Tĩnh. Hiện hội có 73 hội viên, trong đó Hà Tĩnh có 32 người. Hằng năm, hội duy trì sinh hoạt truyền thống, tổ chức các hoạt động nghĩa tình đồng đội, thăm hỏi, động viên hội viên và sẻ chia với gia đình khi đồng đội qua đời.
Từ khi thành lập đến nay, hội đã huy động nguồn lực xây dựng 32 nhà tình nghĩa với tổng trị giá hàng tỷ đồng; trao hàng chục triệu đồng giúp đỡ cựu chiến binh bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam. Hội còn phát huy vai trò nhân chứng lịch sử, kết nối, hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ để giải quyết chế độ, chính sách cho nhiều đồng đội.
Những con tàu không số năm xưa đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, nhưng tinh thần quả cảm, sự hy sinh và tình đồng đội được hun đúc qua những chuyến hải trình sinh tử vẫn tiếp tục hiện diện trong cuộc sống hôm nay. Từ những người lính từng vượt biển chi viện chiến trường, góp sức gìn giữ biển trời quê hương đến những nghĩa cử lặng thầm dành cho đồng đội sau ngày trở về, mạch nguồn trách nhiệm và nghĩa tình vẫn bền bỉ chảy qua các thế hệ. Đó cũng là cách mà những người lính hải quân năm xưa gìn giữ một huyền thoại - huyền thoại về đường Hồ Chí Minh trên biển.