7 nguyên tắc Hà Tĩnh thực hiện Kết luận 107 của Bộ Chính trị về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm

(Baohatinh.vn) - Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh nhấn mạnh đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cấp bách của quý IV/2026; cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chịu trách nhiệm toàn diện về tính trung thực, chính xác, đầy đủ, chất lượng của dữ liệu và kết quả thực hiện tại cơ quan, đơn vị.

bht_brd_10jpg-9479.png
Mỗi vị trí việc làm gắn với một nhóm công việc tương đối ổn định, có sản phẩm và trách nhiệm rõ ràng.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh vừa ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 107-KL/TW ngày 17/10/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế.

Yêu cầu đặt ra là thống nhất nhận thức, khắc phục 3 hạn chế Trung ương đã chỉ rõ: phương pháp và năng lực triển khai chưa đồng đều; chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cơ quan, các cấp còn giao thoa; tư duy giữ nguyên biên chế hiện có. Đồng thời, thực hiện thống nhất quy trình 8 bước, bộ 9 biểu nghiệp vụ theo Hướng dẫn số 07-HD/BTCTW đối với 4 khối (Đảng; HĐND; UBND; MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội) ở cấp tỉnh và cấp xã; toàn tỉnh dùng một bộ biểu, một bộ mã, một bộ số liệu; không làm phát sinh thủ tục, hồ sơ song song.

Sản phẩm phải hoàn thành trong năm 2026

Danh mục vị trí việc làm toàn tỉnh được rà soát, chuẩn hóa, gắn với nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra và yêu cầu năng lực thực tế (xác định rõ vị trí giữ nguyên, vị trí điều chỉnh, vị trí tích hợp, vị trí đề xuất mới hoặc vị trí bãi bỏ).

Cơ sở dữ liệu vị trí việc làm của tỉnh có nguồn, mã tham chiếu, trạng thái kiểm chứng, người xác nhận.

Báo cáo xác định nhu cầu nhân lực và Phương án giao biên chế từng năm giai đoạn 2027 - 2031 của tỉnh, kèm theo bản giải trình khoa học, chặt chẽ, có cơ sở kiểm chứng.

Danh mục bất cập (nhiệm vụ giao thoa, chồng chéo; thủ tục hành chính bất hợp lý; dữ liệu chưa liên thông; văn bản quy phạm và hướng dẫn cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ) kèm đề xuất xử lý, cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành.

7 nguyên tắc thực hiện

Xác định vị trí việc làm từ chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc, không từ thực trạng hiện có

Vị trí việc làm xác định xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, công việc ổn định, sản phẩm đầu ra, trách nhiệm và năng lực cần có; tuyệt đối không xuất phát từ số người hiện có, chức danh, ngạch, bậc, mức lương hiện hưởng hoặc số biên chế đã được giao trước đây.

Mỗi vị trí việc làm gắn với một nhóm công việc tương đối ổn định, có sản phẩm và trách nhiệm rõ ràng; không hình thành vị trí việc làm riêng lẻ chỉ do công đoạn phối hợp, nhiệm vụ đột xuất hoặc sự khác biệt về ngạch, bậc cá nhân; tích hợp những vị trí có tính chất tương đồng và thực hiện cơ chế sử dụng chung nhân lực khi phù hợp.

Một vị trí việc làm không đồng nghĩa với một cá nhân hoặc một chỉ tiêu biên chế; phân định rõ ba cấp độ: xác định vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và quyết định giao biên chế.

Kế thừa hồ sơ, dữ liệu đã có, không xây dựng lại từ đầu

Kế thừa tối đa danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc, khung năng lực đã được phê duyệt và dữ liệu đã được xác nhận, báo cáo Trung ương theo các Công văn số 1972-CV/BTCTW, 2209-CV/BTCTW, 2342-CV/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương.

Các cơ quan, đơn vị chỉ rà soát, đối chiếu, cập nhật, bổ sung nội dung có thay đổi, còn thiếu hoặc chưa kiểm chứng; không yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức kê khai lại những thông tin đã đầy đủ, chính xác; tránh lãng phí thời gian và nguồn lực.

Dữ liệu phải có căn cứ, có kiểm chứng

Thống nhất kỳ thống kê khối lượng công việc là 12 tháng, tính từ ngày 1/10/2025 đến hết ngày 30/9/2026; thời điểm chốt số liệu nhân lực hiện có là ngày 30/9/2026. Mỗi bản ghi dữ liệu phải thể hiện rõ mã tham chiếu, nguồn gốc tài liệu, phạm vi nhiệm vụ, trạng thái kiểm chứng và người chịu trách nhiệm xác nhận; trường hợp chưa có mã chính thức thì sử dụng mã tạm theo quy tắc thống nhất của tỉnh.

Cơ quan, bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ kiểm tra, xác nhận nhiệm vụ, sản phẩm, khối lượng và thời gian thực hiện; bộ phận tổ chức cán bộ kiểm tra, xác nhận vị trí việc làm, nhân lực và biên chế.

Dữ liệu chưa được kiểm chứng phải ghi rõ và tuyệt đối không được sử dụng làm căn cứ để đề xuất tăng biên chế. Việc thu thập, kết nối, khai thác dữ liệu phải thực hiện đúng thẩm quyền, tuân thủ nghiêm ngặt quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác và an toàn thông tin cá nhân.

Xác định nhu cầu nhân lực theo tính chất công việc

Áp dụng phương pháp 1 (theo cơ cấu tổ chức, chức danh, định mức lao động); phương pháp 2 (theo khối lượng công việc và thời gian hao phí thực tế); phương pháp 3 (theo kết quả sản phẩm, độ phức tạp và trách nhiệm công việc).

Tuyệt đối không áp dụng một danh mục, một định mức cứng nhắc, cào bằng cho mọi cơ quan, đơn vị, địa bàn; đối với công việc tham mưu chiến lược, nghiên cứu lý luận, thẩm tra, giám sát và phục vụ các cơ quan lãnh đạo phải tính đầy đủ đến yêu cầu tiến độ khẩn trương, trách nhiệm chính trị đối với sản phẩm, nhiệm vụ đột xuất phát sinh, các đợt công việc cao điểm và yêu cầu duy trì năng lực chuyên môn thường xuyên, không áp dụng cơ học định mức như việc giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính thông thường; không áp dụng máy móc định mức biên chế hoặc tỷ lệ tinh giản bình quân; chỉ tính toán tác động thực tế của chuyển đổi số, cơ chế tự chủ, thuê dịch vụ và xã hội hóa khi có đầy đủ bằng chứng, sản phẩm cụ thể chứng minh.

Không tự động đề xuất tăng biên chế, quản lý chặt chẽ tổng thể biên chế của cơ quan, đơn vị, địa phương

Kết quả xác định nhu cầu nhân lực không tự động quy đổi thành chỉ tiêu biên chế đề xuất tăng thêm; phải đối chiếu chặt chẽ nhu cầu với số người hiện có, biên chế được giao, cơ cấu ngạch, trình độ chuyên môn, năng lực thực tế, phân bổ nội bộ và khả năng cân đối nguồn kinh phí để xác định chính xác nơi thừa, nơi thiếu, nơi bố trí chưa phù hợp; không lấy chênh lệch số người hoặc biên chế hiện có làm căn cứ duy nhất để đề xuất điều chỉnh.

Ưu tiên bố trí lại, điều chuyển, đào tạo, sàng lọc, kiêm nhiệm, sử dụng chung nhân lực và đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ; điều chuyển biên chế từ nơi giảm chức năng, nhiệm vụ, sử dụng biên chế chưa hiệu quả sang nơi thực sự cần thiết; trường hợp đề xuất tăng biên chế phải có căn cứ kiểm chứng, đúng thẩm quyền và bảo đảm kiểm soát tổng biên chế; phân loại rõ người đáp ứng ngay, người cần bồi dưỡng, người cần đào tạo lại hoặc bố trí công việc khác theo quy định.

Kết quả rà soát không tự làm phát sinh quyền hưởng hoặc thay đổi tiền lương, phụ cấp khi chưa có quy định mới.

Phân định rõ trách nhiệm

Phân định rõ ràng nhiệm vụ theo trục dọc (Trung ương - tỉnh - xã) và trục ngang (giữa các cơ quan, đơn vị cùng cấp); xác định cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và người chịu trách nhiệm cuối cùng; khắc phục triệt để tình trạng giao thoa, chồng chéo, đùn đẩy, bỏ sót hoặc trùng lặp công việc.

Làm rõ những nhiệm vụ đã phân cấp, phân quyền nhưng chưa đồng bộ về quy trình, thủ tục, thẩm quyền, nguồn lực thực hiện; gắn việc phân cấp, ủy quyền với năng lực thực thi, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, hậu kiểm.

Phân định rành mạch giữa các công việc thuộc chức năng bắt buộc của khu vực công phải trực tiếp đảm nhiệm với các phần việc có thể thực hiện đặt hàng, đấu thầu, thuê dịch vụ bên ngoài, giao quyền tự chủ hoặc đẩy mạnh xã hội hóa.

Các cơ quan cấp tỉnh phải kê khai đầy đủ, trung thực phần việc còn lại sau khi đã phân cấp về cơ sở (nhiệm vụ xây dựng cơ chế chính sách, hướng dẫn nghiệp vụ, thanh tra, kiểm tra và hậu kiểm).

Triển khai đồng thời các nhiệm vụ

Nơi đủ dữ liệu triển khai ngay; không chờ hoàn thiện toàn bộ hệ thống định mức, tiêu chuẩn, công cụ định lượng mới triển khai các nhiệm vụ cấp thiết trước mắt.

Những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện về mặt phương pháp, định mức, tiêu chuẩn thì thực hiện theo lộ trình kế hoạch, tuyệt đối không để làm chậm tiến độ chung của toàn tỉnh.

Những vấn đề phát sinh mới, vượt thẩm quyền hoặc chưa đủ căn cứ quy định phải kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, chỉ đạo, không được tự ý giải quyết sai quy định.

Chủ đề Sắp xếp tổ chức bộ máy tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả

Đọc thêm

Nữ bí thư chi bộ trẻ gắn kết lòng dân nơi vùng giáo

Nữ bí thư chi bộ trẻ gắn kết lòng dân nơi vùng giáo

Tại thôn Cường Thịnh với 98% đồng bào Công giáo, khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố vững chắc nhờ những việc làm cụ thể của đảng viên, trong đó Bí thư Chi bộ Nguyễn Thị Tuyết Mai là hạt nhân tiêu biểu.
Việt Nam - Ba Lan thiết lập quan hệ đối tác chiến lược

Việt Nam - Ba Lan thiết lập quan hệ đối tác chiến lược

Sáng 26/10, sau khi tiến hành hội đàm, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Cộng hòa Ba Lan Donald Tusk đã gặp gỡ báo chí thông báo kết quả hội đàm. Hai Thủ tướng cho biết vừa thông qua Tuyên bố chung về thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược và Kế hoạch hành động về tăng cường quan hệ đối tác Việt Nam-Ba Lan giai đoạn 2026-2030.
Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến EU và Bỉ: Mở ra không gian hợp tác thực chất

Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến EU và Bỉ: Mở ra không gian hợp tác thực chất

Chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam (từ ngày 21-24/10) đến Liên minh châu Âu (EU) và Vương quốc Bỉ đã kết thúc tốt đẹp, không chỉ củng cố tin cậy chính trị, mà còn mở ra những không gian hợp tác thực chất, đột phá về kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học – công nghệ, chuyển đổi xanh và logistics. Sự kiện khẳng định mạnh mẽ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Hà Tĩnh tổng kết thực hiện Nghị quyết 16-NQ/TW của Bộ Chính trị

Hà Tĩnh tổng kết thực hiện Nghị quyết 16-NQ/TW của Bộ Chính trị

Sáng 23/10, Tỉnh ủy Hà Tĩnh tổ chức hội nghị tổng kết Nghị quyết số 16-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội các xã biên giới đất liền kết hợp tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì hội nghị.
Bảo đảm tính khả thi của pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân

Bảo đảm tính khả thi của pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân

Điều hành phiên thảo luận tổ, đồng chí Nguyễn Duy Lâm - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh ghi nhận các ý kiến phát biểu nhằm kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, quy định của pháp luật; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn.
Tập trung phát triển KT-XH gắn với bảo đảm QPAN, đối ngoại khu vực biên giới

Tập trung phát triển KT-XH gắn với bảo đảm QPAN, đối ngoại khu vực biên giới

Khẳng định Nghị quyết số 16 có ý nghĩa chiến lược lâu dài, đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang Hà Tĩnh tập trung đưa nhiệm vụ phát triển KT-XH gắn với bảo đảm QPAN, đối ngoại khu vực biên giới vào chương trình công tác thường xuyên.
Xin chào,
Tôi là Chatbot của
Báo Hà Tĩnh
Hãy hỏi tôi bất kỳ điều gì bạn cần biết về
Báo Hà Tĩnh nhé. Tôi sẵn sàng hỗ trợ!