Phan Dương - một trí thức Việt kiều yêu nước

(Baohatinh.vn) - Ông Phan Dương (quê thôn Văn Lâm, xã Đức Lâm, nay là xã Lâm Trung Thủy, Đức Thọ, Hà Tĩnh) là Chủ tịch Hội Ái hữu Việt kiều ở Lào, tham gia hoạt động cách mạng bí mật tại Lào và Thái Lan. Hoạt động của ông đã góp phần làm nên thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Một lòng đi theo cách mạng

Ông Phan Dương (SN 1898) quê thôn Văn Lâm, xã Đức Lâm (nay là xã Lâm Trung Thủy), huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1925, ông sang Lào buôn bán. Nhờ có học vấn, giỏi tiếng Pháp, năm 1927, ông được tuyển làm công chức. Năm 1930, ông được bổ nhiệm làm Tham biện Toà sứ (như Chánh Văn phòng bây giờ) của Pháp tại Vientiane.

Ảnh Phan Dương.jpg
Di ảnh ông Phan Dương.

Cuối năm 1929, ông gặp Thái Mười (liên lạc của tổ chức Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Thái Lan), nhận ra đó là “người nhuộm vải” ở quê, từng qua lại thăm cha mẹ mình (mẹ ông là Thái Thị Kiều gọi Thái Mười là chú ruột). Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông Thái Mười đóng vai là “người nhuộm vải” đến các thôn xóm rao nhuộm, mục đích là tìm hiểu thăm dò, kết nối những người yêu nước.

Được biết có một tổ chức cách mạng của Việt Nam đang hoạt động tại Thái Lan, ông Phan Dương nhận làm đầu mối liên lạc và nơi trú chân cho người của tổ chức qua lại giữa Lào và Thái Lan.

Ở trong nước, từ năm 1930 và suốt năm 1931 về sau, bị Pháp và tay sai đàn áp dã man, nhiều người phải dạt sang Lào, Thái Lan lánh nạn. Với vỏ bọc là công chức bộ máy thuộc địa của Pháp, ông đã bảo lãnh cho hàng chục người từ Đức Thọ sang tránh khủng bố trắng của kẻ thù, trong số đó có những người ở làng Thái Yên vừa thoát khỏi mấy trận càn của Pháp ở đồn Lạc Thiện hồi tháng 4, tháng 5/1931. Về sau, số này được ông giúp lập một tổ mộc, dần dần phát triển thành xưởng mộc tạo kế sinh nhai. Ngày nay, con cháu của họ ở Thái Yên còn nhắc đến công ơn của ông.

Tại Toà sứ Pháp, ông biết dân ta khu vực miền Trung vượt biên sang Lào khá đông để tránh bị áp bức và khủng bố của Pháp. Ông đề xuất và được Khâm sứ Pháp phái đi nắm tình hình các địa phương Lào có chung biên giới với Việt Nam từ Hà Tĩnh trở vào để nắm thực trạng, tìm cách cứu giúp đồng bào.

Trong năm 1931, ông ba lần đi Savanakhet (giáp tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế), khảo sát vùng Mường Phìn, Sê Pôn, Bản Đông dọc đường 9 và xuống Păc Xế - Hạ Lào (giáp tỉnh Quảng Nam, Kon Tum) nơi Pháp đã lập đồn điền cà phê. Ông thấy hàng ngàn bà con miền Trung sang Lào làm ăn đều là những người nghèo khó, cơ cực, trốn áp bức, khủng bố của Pháp và Nam triều, trong đó có những người cách mạng. Ông đã trực tiếp gặp một số quan chức Lào cấp dưới khuyên nhủ họ nên giúp đỡ “ải - noọng” Việt. Biết ông là người Toà sứ Viên Chăn, lại là người Việt nên họ rất kính nể, nghe và làm theo lời ông.

Sau những chuyến khảo sát, ông làm tờ trình trình Khâm sứ Pháp về sự đói khổ, cùng quẫn của người Việt, kiến nghị không nên dùng biện pháp cai trị ngặt nghèo dẫn đến sự phản kháng của dân, dễ xẩy ra rối loạn, khó kiểm soát. Từ đó, việc cư trú của bà con ta tuy còn bất hợp pháp trên đất Lào nhưng làm ăn, sinh sống không đến nỗi cơ cực như trước.

Đầu năm 1932, ông nhận được tin Thái Mười đã bị Pháp và tay sai sát hại trên quê hương. Qua tiếp xúc với bà con Việt Nam sang lánh nạn, ông biết phong trào cách mạng trong nước đang rất khó khăn, phải hết sức thận trọng trong công việc và cần kiên nhẫn chờ thời cơ.

Năm 1938, Trần Đức Vịnh (đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động trong Việt Kiều) quê làng Đông Khê (Đức Thuỷ, Đức Thọ) từ Thái Lan qua Viêng Chăn tìm đến xưởng mộc Thái Yên xin việc làm. Biết ông là người của tổ chức, Trần Đức Vịnh đã mạnh dạn nói với ông: “Thầy nên đứng ra vận động quyên góp, giúp đỡ người Việt ở Lào để bà con ta được nhờ”. Tết năm đó, nhân buổi họp mặt đầu xuân của bà con ta khu vực Viêng Chăn và một số từ Savanakhet, Thà Khẹt, Sầm Nưa về, Hội Ái hữu Việt Kiều ở Lào được thành lập, cử ông làm chủ tịch. Hội hoạt động đến sau tháng 8/1945.

Năm 1940, phát xít Nhật vào Đông Dương và kéo đến Viêng Chăn, người Pháp lép vế. Ông thôi việc đưa cả gia đình về thị xã Thà Khẹt mở tiệm buôn bán duy trì cuộc sống. Đầu năm 1943, ông bị quân Nhật bắt, chúng nghi ngờ ông về đây để hợp tác với những người cộng sản Đông Dương đang hoạt động mạnh ở Trung Lào.

Sau hai tuần bị quản thúc, ông được thả về thì vừa lúc Trần Đức Vịnh tìm đến thông tin cho ông biết về tình hình thời cuộc của cách mạng Việt Nam. Theo ý kiến của Trần Đức Vịnh, ông sang Thái Lan thâm nhập đồng bào Việt kiều, chuẩn bị cơ sở để khi bất trắc, bà con ta ở Lào lánh sang có nơi nương tựa. Xong việc, trên đường về, ông bị cảnh sát Thái Lan bắt giữ nhưng nhờ đối đáp khéo léo, chúng không tra khảo được gì, trục xuất ông về Lào.

Ông tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và Hội Ái hữu cho đến khi Cách mạng tháng Tám thành công.

Trong hồ sơ thu được của mật thám Pháp hiện lưu trữ tại Cục Hồ sơ nghiệp vụ An ninh, Bộ Công an có ghi: “Năm 1931, ông Phan Dương làm Tham biện của Toà sứ Pháp tại Viêng Chăn (Lào), có liên lạc với những tù cộng sản được tha ở quê, bị địch điều tra theo dõi vì tình nghi liên quan đến phong trào cộng sản ở SavanaKhet (Lào) và Quảng Trị”.

Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh xác nhận: “Năm 1931, ông làm Tham biện của Toà sứ Pháp tại Vientiane - Lào. Ông bị tình nghi có quan hệ với những người hoạt động cộng sản (trong tổ chức cộng sản Savanakhet và Pakse của Lào). Tháng 01/1932, Mật thám Pháp theo dõi và nghi ngờ Phan Dương tham gia vào hoạt động cộng sản ở tuyến Savanakhet - Quảng Trị”.

Cả gia đình một lòng theo Đảng

Đầu năm 1946, Phan Dương cùng gia đình trở về quê hương Đức Thọ. Ông động viên, bảo ban và nhắc nhở anh em, con cháu chăm chỉ học hành, sản xuất, tích cực góp phần giữ vững nền độc lập, tham gia kháng chiến chống Pháp xâm lược. Ông tạ thế năm 1955.

Gia đình ông Phan Dương có nhiều người xuất sắc, có đóng góp cho cách mạng. Vợ ông là bà Trần Thị Ân được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.

Xác nhận của Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh về hoạt động của ông Phan Dương.
Xác nhận của Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh về hoạt động của ông Phan Dương.

Em trai Phan Dương là luật sư Phan Nhuận, cử nhân Luật khoa và Văn khoa tại Pháp, làm việc tại Toà Thượng thẩm Paris với chức danh luật sư, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Ông là Việt kiều yêu nước, từng phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp (khoảng tháng 10 năm 1946) trong những buổi tiếp xúc với khách quốc tế, là người đầu tiên dịch tập thơ “Nhật kí trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tiếng Hán ra tiếng Pháp.

Người con trai đầu của ông Phan Dương là Phan Đường tốt nghiệp khoa Toán Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1948, là giáo viên ưu tú có công lao lớn cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, được Hội đồng Chính phủ tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng Hai, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.

Người con trai thứ hai là Phan Thanh Dẫn đã lên Việt Bắc theo học ngành y và từ năm 1953 là cán bộ Ban Phòng bệnh của Trung ương ở chiến khu Việt Bắc; năm 1957 được kết nạp Đảng, sau này trở thành Nhà giáo Nhân dân, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Y khoa, nguyên Phó Chủ nhiệm bộ môn Mắt, Trường Đại học Y Hà Nội. Ông được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng Hai, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất và Huy hiệu 55 tuổi Đảng.

Chủ đề Đời sống văn hóa

Đọc thêm

Phát triển đảng trong KKT Vũng Áng (bài cuối): Đồng bộ xây vườn ươm “hạt giống đỏ”

Phát triển đảng trong KKT Vũng Áng (bài cuối): Đồng bộ xây vườn ươm “hạt giống đỏ”

Những khó khăn về công tác phát triển đảng viên trong Khu kinh tế Vũng Áng là thực tế đặt ra ở Hà Tĩnh, nhưng cũng đồng thời cho thấy tính phổ biến của vấn đề này tại nhiều tỉnh, thành. Bởi vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này, cấp ủy các cấp và hệ thống chính trị ở Hà Tĩnh cần triển khai đồng bộ các giải pháp trọng tâm; đồng thời, Trung ương cần nghiên cứu, đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng Đảng trong doanh nghiệp nói chung, công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp nói riêng.
Phát triển đảng trong KKT Vũng Áng (bài 3): Khi chi bộ chưa hiện diện trong nhà máy

Phát triển đảng trong KKT Vũng Áng (bài 3): Khi chi bộ chưa hiện diện trong nhà máy

Hơn 1.300 doanh nghiệp hoạt động tại Khu kinh tế Vũng Áng, nhưng mới chỉ có 1 đảng bộ, 10 chi bộ, chủ yếu trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa; còn các doanh nghiệp tư nhân, FDI rất ít chi bộ. Có đảng viên nhưng chưa có tổ chức đảng trong doanh nghiệp nên vai trò hạt nhân và công tác phát triển Đảng tại đây gặp khó khăn dù lực lượng lao động rất đông đảo.
Đánh giá chính sách nông nghiệp, nông thôn từ thực tiễn cơ sở

Đánh giá chính sách nông nghiệp, nông thôn từ thực tiễn cơ sở

Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Hà Tĩnh Dương Tất Thắng đề nghị các địa phương phát huy vai trò của đảng ủy xã trong việc đưa chính sách vào cuộc sống; đồng hành với các mô hình kinh tế hiệu quả, có giải pháp nhân rộng, qua đó hình thành thế mạnh riêng của từng địa bàn.
Phát triển đảng trong KKT Vũng Áng (bài 2): Vị thế của những “hạt giống đỏ”

Phát triển đảng trong KKT Vũng Áng (bài 2): Vị thế của những “hạt giống đỏ”

Đội ngũ đảng viên tại Khu kinh tế Vũng Áng không chỉ tiên phong bằng tinh thần dấn thân, xây dựng sáng kiến mà còn bằng khả năng quy tụ, truyền cảm hứng để đồng nghiệp cùng tiến bộ. Trong môi trường sản xuất hiện đại, người đảng viên “đi trước một bước” về nhận thức chính trị, tác phong công nghiệp, khả năng làm chủ công nghệ đã góp phần lan tỏa tinh thần trách nhiệm đến lực lượng quần chúng, chung tay xây dựng doanh nghiệp lớn mạnh, bền vững.
Phát triển đảng trong KKT Vũng Áng (bài 1): "Khoảng trống" giữa hàng vạn lao động

Phát triển đảng trong KKT Vũng Áng (bài 1): "Khoảng trống" giữa hàng vạn lao động

Khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh) đang mở rộng không gian phát triển với hàng loạt dự án công nghiệp quy mô lớn, kéo theo hàng vạn lao động đến làm việc. Thế nhưng, phía sau nhịp sản xuất sôi động ấy, lực lượng đảng viên còn khá mỏng so với quy mô lao động; nhiều doanh nghiệp có đảng viên nhưng chưa có tổ chức đảng. Khoảng trống ấy đặt ra yêu cầu mới đối với công tác phát triển đảng trong một môi trường sản xuất ngày càng đa dạng, hiện đại và chuyên nghiệp.
Công chức cấp xã "đa nhiệm"

Công chức cấp xã "đa nhiệm"

Sau khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, nhiều công chức cấp xã phải bao quát thêm những lĩnh vực trước đây chưa từng phụ trách. “Đa nhiệm” trở thành yêu cầu mới, đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức phải chủ động học hỏi để đáp ứng nhiệm vụ.
“Phủ xanh” không gian số, giữ vững trận địa tư tưởng

“Phủ xanh” không gian số, giữ vững trận địa tư tưởng

Cùng với chủ động phát hiện, đấu tranh, phản bác thông tin sai trái, xấu, độc, Hà Tĩnh đang triển khai nhiều cách làm theo hướng chủ động tạo dựng, lan tỏa thông tin tích cực, từng bước hình thành “thế trận niềm tin” trên không gian số.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt hoa tại Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đài tưởng niệm Liệt sĩ Vô danh ở Moskva

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt hoa tại Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đài tưởng niệm Liệt sĩ Vô danh ở Moskva

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, sáng 8/9 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến đặt hoa tại Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh (Quảng trường Hồ Chí Minh) và tại Đài tưởng niệm Liệt sĩ Vô danh ở thủ đô Moskva, Liên bang Nga.
Trang trọng lễ giỗ lần thứ 95 của Tổng Bí thư Trần Phú

Trang trọng lễ giỗ lần thứ 95 của Tổng Bí thư Trần Phú

Lễ giỗ được tổ chức tại Khu lưu niệm Tổng Bí thư Trần Phú (xã Đức Thọ, Hà Tĩnh), là dịp để thể hiện sự tri ân của thế hệ hôm nay trước những công lao, sự hy sinh của Tổng Bí thư Trần Phú đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị

Sáng 3/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu quan trọng chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị. Báo và phát thanh, truyền hình Hà Tĩnh trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu.
Mỗi tấm Huy hiệu Đảng trở thành một "địa chỉ đỏ" giáo dục truyền thống

Mỗi tấm Huy hiệu Đảng trở thành một "địa chỉ đỏ" giáo dục truyền thống

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc nhấn mạnh: việc trao Huy hiệu Đảng không chỉ là sự ghi nhận đối với cá nhân đảng viên mà còn là dịp để tri ân, tôn vinh những thế hệ đã đặt nền móng, đã cống hiến để nước ta có được cơ đồ tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay.
Từ lời thề độc lập đến khát vọng vươn mình

Từ lời thề độc lập đến khát vọng vươn mình

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản Tuyên ngôn không chỉ xác lập quyền độc lập của một dân tộc, mà còn mở ra tư thế làm chủ và khát vọng hạnh phúc của Nhân dân Việt Nam...
Gần 80 năm tuổi Đảng - lặng lẽ “gieo mầm”, âm thầm “truyền lửa”

Gần 80 năm tuổi Đảng - lặng lẽ “gieo mầm”, âm thầm “truyền lửa”

Gần 80 năm đứng trong hàng ngũ của Đảng, cụ Võ Thị Út (SN 1930), đảng viên thuộc chi bộ thôn Đồng Hòa, xã Gia Hanh, vẫn giữ nếp sống giản dị, gương mẫu, hết lòng với việc chung. Từ những năm tháng gánh gạo tiếp tế bộ đội, lấp hố bom đến xây dựng nông thôn mới hôm nay, cụ Út luôn nêu gương bằng những việc làm cụ thể và truyền nếp sống ấy cho con cháu.
Xin chào,
Tôi là Chatbot của
Báo Hà Tĩnh
Hãy hỏi tôi bất kỳ điều gì bạn cần biết về
Báo Hà Tĩnh nhé. Tôi sẵn sàng hỗ trợ!