Xóa tư duy "đói nằm co", thích làm thầy hơn làm thợ!

(Baohatinh.vn) - Được triển khai từ năm 2010, đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là đề án 1956) với tổng mức kinh phí ban đầu gần 26.000 tỷ đồng có mục tiêu cơ bản là nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn... Tuy nhiên, sau gần 7 năm triển khai, hiệu quả từ đề án mang lại trên địa bàn Hà Tĩnh chưa như kỳ vọng.

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020:

Khó khăn đầu vào

Hà Linh (Hương Khê) là một xã miền núi khó khăn, diện tích đất đai nhiều nhưng lại thường xuyên hứng chịu thiên tai, bão lũ, nhiều vụ mùa “trời cho thấy mà chẳng cho ăn”, đời sống người dân hết sức khó khăn. Được phân bổ chỉ tiêu, kinh phí của đề án 1956 từ năm 2013, chính quyền địa phương như “mở cờ trong bụng” vì đây được coi là giải pháp để giải quyết việc làm cho người dân.

xoa tu duy doi nam co thich lam thay hon lam tho

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là chủ trương đúng đắn nhưng hiệu quả chưa thật sự như mong muốn. Chưa có nhiều mô hình kinh tế được hình thành từ đề án.

Thế nhưng, dù đã tăng cường tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề nhưng số lượng người dân tham gia không nhiều. Sau 4 năm triển khai, đến nay, xã cũng chỉ mới mở được 4 lớp với gần 150 học viên. Theo lãnh đạo địa phương, xã không có nhiều thế mạnh nên chỉ tập trung vào mở lớp chăn nuôi, trồng cây ăn quả có múi. Thời gian đầu mở lớp thì người dân tham gia học, về sau thưa dần bởi số lượng có nhu cầu học mới không tăng.

Trên thực tế, nhiều địa phương cũng gặp bài toán nan giải tương tự. Dù không có tay nghề, đồng nghĩa với không có cơ hội tìm kiếm việc làm nhưng nhiều người chấp nhận “đói thì nằm co”. Bên cạnh đó, phần lớn người trẻ mang tâm lý thích làm thầy, nhiều người muốn theo học tại các cơ sở đào tạo tập trung, chính quy để “có cái bằng”. Một bộ phận còn lại, vì điều kiện tuổi tác, hạn chế về trình độ nên chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc học nghề. Bởi vậy, việc theo học của nhiều học viên là hình thức nên chất lượng không cao. Nhiều giáo viên tham gia giảng dạy chương trình cho biết, đến thời điểm vụ mùa thì số lượng học viên thường xuyên không đảm bảo.

Số liệu từ Sở LĐ-TB&XH cũng cho thấy, số lượng đào tạo giai đoạn 2010 – 2014 của toàn tỉnh là hơn 31.800 người, chỉ đạt khoảng 70% kế hoạch đề ra.

xoa tu duy doi nam co thich lam thay hon lam tho

Tập huấn nâng cao kỹ năng cho hội viên hội nông dân là một trong những biện pháp nhằm góp phần thực hiện đề án 1956. Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc.

Khó phát huy tay nghề

Đối với không ít người coi việc học nghề là một cơ hội nắm được “cần câu” để bắt “con cá”, thì khó khăn gặp phải ở đây là việc đưa nghề vào thực tiễn. Chị Nguyễn Thị Hải (Thạch Mỹ - Lộc Hà) cho biết: “Với thời gian đào tạo chỉ 3 tháng trong khi hầu hết học viên chưa biết gì về nghề may thì quả thật là rất khó khăn. Xong khóa học, chúng tôi chỉ mới bước đầu làm quen với kiến thức cơ bản, máy móc…, tư duy và kỹ năng chưa có nên để xin việc hay tự mua máy về làm là không thể”.

Tình trạng đó cũng xảy ra với nhiều học viên các lớp nghề như: Hàn, lái máy… Đây là những ngành nghề đòi hỏi kỹ thuật cao, trong khi thời gian đào tạo quá ngắn cùng với sự hạn chế về trang thiết bị của các cơ sở đào tạo, thiếu điều kiện thực hành, không phù hợp với năng lực của bản thân người học và nhu cầu của địa phương… đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của mỗi khóa học.

xoa tu duy doi nam co thich lam thay hon lam tho

Lao động trẻ ở nông thôn có xu hướng lựa chọn những ngành nghề, cơ sở đào tạo chính quy bài bản để theo hoc, do đó, đầu vào cho đề án 1956 ngày càng khó khăn.

Anh Lê Đình Hà (xã Thạch Châu - Lộc Hà) chia sẻ: “Dù đã rất cố gắng, chăm chỉ nhưng do thời gian quá ngắn, giáo trình, giáo cụ không đủ nên xong khóa học, tôi vẫn chưa thể sử dụng thành thạo máy hàn. Vì thế, nhiều lần đi thử tay nghề nhưng đều bị từ chối. Một số anh em học nghề vận hành máy xúc đào thì cũng chỉ phụ lái ở công trường”.

Thời gian học ngắn, ngành nghề không phù hợp nhu cầu đã khiến lao động nhiều địa phương không tìm được việc làm sau đào tạo. Thậm chí, với những địa phương có nghề truyền thống, số lượng lao động nông thôn có nhu cầu chuyển đổi nghề nhiều như TX Hồng Lĩnh cũng chỉ hơn 55% người (477/865) học nghề phi nông nghiệp có việc làm sau đào tạo trong giai đoạn 2010 – 2016.

Đối với nghề nông nghiệp thì tình hình có vẻ khả quan hơn khi mà những kiến thức học được ít nhiều được bà con nông dân áp dụng vào chăn nuôi, trồng trọt tại gia đình. Ông Trần Đức Thuận - Trưởng phòng Cơ điện – Ngành nghề nông thôn - Chi cục Phát triển nông thôn cho biết: “Phần lớn học viên đã có sẵn tư liệu sản xuất, khi tham gia các khóa học như kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, thú y…, họ đã vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tế. Tuy nhiên, việc sử dụng kiến thức được học để mở rộng hơn quy mô, phát triển các mô hình kinh tế lớn thì không hề đơn giản, bởi người dân cần nhiều hơn những cơ chế, chính sách hỗ trợ sau đào tạo, ví dụ như: Vốn, khoa học kỹ thuật…”.

(Còn nữa)

Đọc thêm

Khu kinh tế Vũng Áng - Nơi hội tụ dòng chảy lao động mới

Khu kinh tế Vũng Áng - Nơi hội tụ dòng chảy lao động mới

Có những thời điểm, người lao động Hà Tĩnh phải rời quê hương để vào Nam, ra Bắc hoặc đi nước ngoài tìm kiếm việc làm. Hiện nay, dòng chảy ấy đang dần đảo chiều khi hàng loạt đại dự án đang triển khai tại KKT Vũng Áng, mở ra nhiều cơ hội việc làm với thu nhập hấp dẫn, môi trường chuyên nghiệp và tương lai bền vững.
Động lực nào giúp lao động công nghiệp ở Hà Tĩnh tăng gần 50%?

Động lực nào giúp lao động công nghiệp ở Hà Tĩnh tăng gần 50%?

Đà tăng trưởng của ngành công nghiệp đang tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực đến thị trường lao động Hà Tĩnh. 6 tháng đầu năm, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng gần 50% so cùng kỳ năm 2025, phản ánh sức bật của khu vực công nghiệp và hiệu quả từ “làn sóng” đầu tư vào địa phương.
Tôi là “kiểm tu” toa xe tàu hỏa

Tôi là “kiểm tu” toa xe tàu hỏa

Sau mỗi chuyến tàu lăn bánh an toàn trên tuyến đường sắt là công việc thầm lặng của những người "kiểm tu" toa xe ở Hà Tĩnh. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, họ phải kiểm tra hàng trăm chi tiết kỹ thuật để phát hiện những hư hỏng có thể ảnh hưởng đến an toàn chạy tàu.
Theo chân người dân Hà Tĩnh lên đồi hái sim

Theo chân người dân Hà Tĩnh lên đồi hái sim

Tháng 7, sim rừng chín trên khắp các triền đồi ở Hà Tĩnh. Từ sáng sớm, nhiều người dân tranh thủ lên đồi hái sim, biến món quà của núi rừng thành nguồn thu nhập trong thời điểm nông nhàn.
Săn vẹm biển trên kè chắn cát, chắn sóng Cửa Nhượng

Săn vẹm biển trên kè chắn cát, chắn sóng Cửa Nhượng

Nhiều người dân vùng biển Thiên Cầm, Cẩm Trung (Hà Tĩnh) men theo các rãnh hở giữa những khối bê tông của kè chắn cát, chắn sóng Cửa Nhượng để mưu sinh. Trong khoảng không gian chật hẹp, trơn trượt, họ kiên nhẫn cạy tách từng con vẹm bám chặt vào đá để kiếm thêm thu nhập.
Bài cuối: Làm sao để lao động “ly nông” không “ly hương”?

Bài cuối: Làm sao để lao động “ly nông” không “ly hương”?

Khi làn sóng đầu tư đang tăng tốc và nhu cầu nhân lực ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra không chỉ là tạo thêm việc làm mà quan trọng hơn là tạo dựng niềm tin để người lao động yên tâm gắn bó với quê hương. Điều đó đòi hỏi Hà Tĩnh triển khai đồng bộ các giải pháp từ phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng việc làm, hiện đại hóa thị trường lao động đến xây dựng hệ sinh thái an sinh đủ sức giữ chân người lao động trong giai đoạn phát triển mới.
Bài 2: Đất lành - vì sao người chưa ở lại?

Bài 2: Đất lành - vì sao người chưa ở lại?

Được làm việc gần gia đình, ổn định cuộc sống trên chính mảnh đất chôn rau cắt rốn là mong muốn của nhiều người lao động. Thế nhưng, khi hệ sinh thái việc làm chưa đủ độ dày, thu nhập còn bấp bênh và môi trường phát triển chưa định hình rõ nét, “ly hương” vẫn là lựa chọn an toàn của số đông.
Bài 1: Giấc mơ nơi đất khách và nỗi trăn trở ở quê nhà

Bài 1: Giấc mơ nơi đất khách và nỗi trăn trở ở quê nhà

Giữa những khu công nghiệp đông đúc, những dãy phòng trọ chật hẹp hay các ca làm kéo dài đến đêm khuya là cuộc sống của hàng chục nghìn lao động Hà Tĩnh đang mưu sinh nơi đất khách. Họ rời quê với khát vọng đổi thay cuộc sống, nhưng phía sau những đồng lương là những năm tháng xa gia đình, những cuộc đoàn viên ngắn ngủi và những khoảng trống để lại nơi quê nhà.
Vì sao ngày càng nhiều lao động phổ thông chọn nghề công nhân xây dựng

Vì sao ngày càng nhiều lao động phổ thông chọn nghề công nhân xây dựng

Từng sang Hàn Quốc làm việc với ước mong “đổi đời”, từng “trắng tay” sau kinh doanh thất bại, anh Lê Văn Ước và anh Phạm Văn Hiệp đều tìm thấy cơ hội mới từ nghề công nhân xây dựng. Câu chuyện của họ phản ánh một xu hướng đáng chú ý: Công trường không còn chỉ là nơi làm việc tạm thời, mà đang trở thành lựa chọn nghề nghiệp ổn định của nhiều lao động phổ thông.
Xin chào,
Tôi là Chatbot của
Báo Hà Tĩnh
Hãy hỏi tôi bất kỳ điều gì bạn cần biết về
Báo Hà Tĩnh nhé. Tôi sẵn sàng hỗ trợ!