Tăng trưởng GRDP 9 tháng năm 2026 của Hà Tĩnh đạt cao, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước, trong đó nhiều doanh nghiệp đóng góp lớn cho ngân sách là kết quả ấn tượng của nền kinh tế. Từ nền tảng này, điều mà cấp ủy, chính quyền, ngành chuyên môn Hà Tĩnh kỳ vọng là làm sao để các doanh nghiệp đầu tàu tiếp tục dẫn dắt, tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp địa phương tham gia phát triển vì mục tiêu không ngừng cải thiện đời sống người dân.
Tăng trưởng - không chỉ nhìn vào những con số
Trong bức tranh rực rỡ sắc màu về tăng trưởng 9 tháng năm 2026 của Hà Tĩnh, lĩnh vực công nghiệp tăng 25,64%, tiếp tục giữ vai trò động lực chính. Sản xuất ô tô, điện, pin và ắc quy, thép cùng một số sản phẩm công nghiệp khác góp phần tạo nên nhịp tăng trưởng cao và ổn định. Ở góc độ thu ngân sách, theo số liệu của Thuế tỉnh Hà Tĩnh, 10 doanh nghiệp nộp thuế nội địa lớn nhất đã đóng góp hơn 2.200 tỷ đồng trong 9 tháng. Dẫn đầu là Công ty TNHH MTV Bia Sài Gòn – Hà Tĩnh với hơn 578 tỷ đồng, tiếp đến là Formosa Hà Tĩnh với hơn 327,6 tỷ đồng, sau đó là VinFast Hà Tĩnh hơn 304 tỷ đồng… Đáng chú ý, VinFast lần đầu góp mặt trong nhóm 10 doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất tỉnh.
Những kết quả đáng trân trọng nói trên phản ánh năng lực sản xuất được mở rộng và vai trò của các doanh nghiệp chủ lực. Song, một nền kinh tế không thể được đánh giá chỉ bằng tốc độ tăng GRDP hoặc số tiền thu được trong một kỳ cố định. Câu hỏi quan trọng hơn là tốc độ tăng trưởng đó tạo ra bao nhiêu giá trị mới, đem lại công việc và thu nhập như thế nào, đồng thời giúp địa phương vững vàng đến đâu trước biến động thị trường.
10 doanh nghiệp nói trên đóng góp hơn 35% số thuế, phí thuộc phạm vi thống kê của cộng đồng doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh - đây không phải tỷ trọng trong toàn bộ thu ngân sách nhà nước trên địa bàn. Tỷ lệ tập trung cao cho thấy vai trò rõ nét của các doanh nghiệp đầu tàu, nhưng cũng đặt ra yêu cầu theo dõi mức phụ thuộc vào một số ngành, thị trường và chủ thể sản xuất lớn.
Cũng cần phân biệt số thuế đã nộp với mức đóng góp vào GRDP. Thuế tiêu thụ đặc biệt, các khoản thuế gắn với hàng hóa, thuế thu nhập doanh nghiệp và những nghĩa vụ khác có cơ chế hình thành khác nhau. Vì thế, xếp hạng nộp thuế không đồng nghĩa với xếp hạng năng suất, giá trị gia tăng hay hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đánh giá chất lượng tăng trưởng phải nhìn đồng thời vào sản xuất, việc làm, tiền lương, năng suất, công nghệ và tác động môi trường.
Để doanh nghiệp đầu tàu thực sự là đầu kéo cả nền kinh tế
Hà Tĩnh có lợi thế đáng kể từ hệ thống công nghiệp, năng lượng, cảng biển và các dự án sản xuất có tính động lực ở Khu kinh tế Vũng Áng. Nhưng, sự hiện diện của nhà máy quy mô lớn chưa tự động tạo nên một hệ sinh thái doanh nghiệp địa phương mạnh, mà điều quyết định là doanh nghiệp trong tỉnh có tham gia được vào chuỗi cung ứng, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và từng bước đảm nhận các công đoạn có giá trị cao hơn hay không. Vì vậy, thay vì chỉ tổ chức những cuộc gặp gỡ kết nối, tỉnh cần thúc đẩy chương trình phát triển nhà cung ứng dựa trên đơn hàng thực tế. Nhà máy lớn công khai nhóm nhu cầu phù hợp; cơ quan chức năng cùng hiệp hội và đơn vị chuyên môn đánh giá năng lực doanh nghiệp, từ đó hỗ trợ cải tiến quy trình, quản trị chất lượng, đào tạo nhân lực, thử nghiệm sản phẩm và tiếp cận thị trường.
Điểm khởi đầu có thể là cơ khí, vật tư phụ trợ, vận tải, kho bãi, bảo trì, dịch vụ kỹ thuật và những sản phẩm phục vụ người lao động. Khi tích lũy kinh nghiệm, doanh nghiệp có thể tham gia sâu hơn vào lĩnh vực linh kiện, thiết bị, kiểm định và tự động hóa. Mục tiêu không phải buộc doanh nghiệp lớn mua hàng tại chỗ mà giúp doanh nghiệp Hà Tĩnh cạnh tranh được bằng chất lượng, giá thành và độ tin cậy. Thành công của cách làm này phải thể hiện ở số hợp đồng thực hiện, doanh thu cung ứng, năng suất và việc làm ổn định, chứ không dừng ở số hội nghị hay biên bản ghi nhớ. Doanh nghiệp địa phương cũng cần mở rộng khách hàng ngoài tỉnh để không rơi vào tình thế phụ thuộc vào một nhà máy duy nhất.
Cùng với công nghiệp, nông nghiệp và nông thôn không thể đứng ngoài dòng chảy phát triển. Với cây lúa, giá trị gia tăng không chỉ đến từ tăng năng suất mà còn từ thu gom đúng thời điểm, sấy, bảo quản, chế biến và tổ chức tiêu thụ. Giảm thất thoát sau thu hoạch, cải thiện chất lượng và xây dựng hợp đồng ổn định có thể giúp người sản xuất tăng thu nhập mà không nhất thiết mở rộng diện tích. Tư duy đó cũng cần được áp dụng phù hợp với chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản và sản phẩm đặc trưng. Hợp tác xã phải trở thành đầu mối làm những việc từng hộ khó tự thực hiện: chuẩn hóa chất lượng, mua chung, thu gom, bảo quản và thương lượng với thị trường. Chính sách hỗ trợ nên tập trung vào những mắt xích tạo giá trị thực thay vì chia nhỏ nguồn lực cho nhiều mô hình thiếu khả năng tự vận hành.
Một động lực khác là dịch vụ phục vụ sản xuất và chất lượng sống. Công nghiệp càng phát triển, nhu cầu về logistics, giáo dục nghề nghiệp, y tế, nhà ở, thương mại, công nghệ thông tin và dịch vụ đô thị càng lớn. Nếu tổ chức tốt, đây vừa là thị trường cho doanh nghiệp địa phương, vừa là điều kiện giữ chân lao động có kỹ năng. Trong du lịch, các lợi thế biển, sinh thái và di sản văn hóa cần chuyển thành sản phẩm có khách hàng, thời gian lưu trú và mức chi tiêu thực chất.
Đo sự phát triển bằng năng suất và đời sống người dân
Để tăng trưởng cao trở thành nền tảng lâu dài, quản lý ngân sách phải gắn chặt với việc nuôi dưỡng nguồn thu. Thu từ đất, khoản thu một lần hay đột biến có ý nghĩa nhất định đối với cân đối từng năm, nhưng không thể được xem như nguồn thu thường xuyên để mở rộng các cam kết chi kéo dài. Nền tài chính địa phương vững chắc phải dựa ngày càng nhiều hơn vào khu vực sản xuất, kinh doanh hoạt động hiệu quả và tuân thủ pháp luật.
Nguồn lực đầu tư công vì thế cần dành ưu tiên cho hạ tầng kết nối, phòng chống thiên tai, đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp, dữ liệu dùng chung và những công trình phục vụ nhiều chủ thể. Mỗi dự án cần trả lời rõ tháo gỡ điểm nghẽn gì, ai được hưởng lợi, chi phí vận hành ra sao và hiệu quả sau đầu tư có thể kiểm chứng thế nào. Tránh dàn trải cũng chính là tạo dư địa cho những công việc thật sự quan trọng.
Cùng với mục tiêu GRDP và thu ngân sách, cần theo dõi chặt chẽ số doanh nghiệp đang hoạt động thực chất, năng suất lao động, việc làm ổn định, thu nhập sau biến động giá cả, hợp đồng cung ứng của doanh nghiệp địa phương và khả năng chống chịu thiên tai. Khoa học – công nghệ và chuyển đổi số cần được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng: giảm lỗi sản phẩm, tiết kiệm thời gian, chi phí, năng lượng và nâng chất lượng dịch vụ công.
Hà Tĩnh đã có những động lực tăng trưởng đáng kể. Chặng đường tiếp theo không đơn thuần là thu hút thêm bao nhiêu vốn, xây thêm bao nhiêu nhà máy hay đạt thêm bao nhiêu phần trăm GRDP, điều cần hơn là hình thành một nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh, có nông thôn thịnh vượng, có nguồn thu ngân sách ổn định và người dân được thụ hưởng rõ hơn thành quả phát triển. Tăng trưởng nhanh là điều đáng mừng, nhưng phát triển thực chất mới là đích đến: những dự án lớn không đứng riêng lẻ mà trở thành lực kéo cho doanh nghiệp địa phương; ngân sách tăng đi cùng năng lực sản xuất; kết quả kinh tế cuối cùng được đo bằng cơ hội và cuộc sống ngày càng tốt hơn của người dân.