Quy định về vị trí việc làm viên chức áp dụng từ 1/7/2026

Nghị định quy định rõ các nguyên tắc xác định vị trí việc làm phải bảo đảm việc xác định vị trí việc làm căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập.

qh-14502jpg-1957.jpg
Người được tuyển dụng vào vị trí việc làm sẽ được xếp vào ngạch tương ứng nếu có năng lực, miễn là đáp ứng được các yêu cầu của vị trí đó. (Ảnh: QH/Vietnam+)

Nghị định 232/2026/NĐ-CP quy định về nguyên tắc, danh mục vị trí việc làm, bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm, việc xác định vị trí việc làm, thẩm quyền, trách nhiệm quản lý, phê duyệt, điều chỉnh danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Nguyên tắc xác định vị trí việc làm

Nghị định quy định rõ các nguyên tắc xác định vị trí việc làm phải bảo đảm việc xác định vị trí việc làm căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập; phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung theo quy định của Chính phủ.

Bảo đảm mỗi vị trí việc làm được xác định trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung công việc cơ bản giống nhau hoặc tương đồng.

Bảo đảm việc cụ thể hóa nội dung công việc của vị trí việc làm theo lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành, phạm vi công tác hoặc đối tượng phục vụ được thực hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm; không làm thay đổi tên gọi và không làm phát sinh vị trí việc làm mới.

Bảo đảm việc phát triển, mở rộng phạm vi, mức độ phức tạp của công việc phải được thể hiện thông qua các bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm; không được sử dụng để hình thành vị trí việc làm mới.

Đối với vị trí việc làm quản lý:

Một chức danh quản lý tương ứng với một vị trí việc làm.

Trường hợp có từ 02 người trở lên giữ chức danh cấp phó của người đứng đầu thì việc phân công phụ trách lĩnh vực, nhiệm vụ cụ thể không làm phát sinh vị trí việc làm mới, không làm thay đổi tên gọi của vị trí việc làm.

Gắn với một vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ phù hợp với lĩnh vực được giao phụ trách; là căn cứ để xác định nhiệm vụ chuyên môn, yêu cầu về năng lực và việc thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức theo quy định của pháp luật.

Danh mục vị trí việc làm được sử dụng thống nhất trong đơn vị; việc phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm đã được xác định.

Danh mục vị trí việc làm viên chức

Danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập được xác định theo các nhóm vị trí việc làm tại các Danh mục vị trí việc làm khung ban hành kèm theo Nghị định này, gồm:

Phụ lục I: Danh mục vị trí việc làm quản lý.

Phụ lục II: Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ.

Phụ lục III: Danh mục vị trí việc làm hỗ trợ.

Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và danh mục vị trí việc làm hỗ trợ được xác định theo nguyên tắc mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp hoặc nhóm hoạt động có tính chất, nội dung chuyên môn cơ bản giống nhau là một vị trí việc làm.

Việc xác định, sử dụng vị trí việc làm phải bảo đảm các yêu cầu sau:

Không làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành; không thay đổi tên gọi vị trí việc làm, không chia, tách hoặc gộp vị trí việc làm trong danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành.

Trường hợp một vị trí việc làm được quy định đồng thời trong Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và Danh mục vị trí việc làm hỗ trợ, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quyết định việc áp dụng một Danh mục vị trí việc làm khung phù hợp trên cơ sở xem xét các tiêu chí sau:

a) Mức độ gắn với chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị: Vị trí việc làm thực hiện trực tiếp chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm phục vụ hoạt động quản lý, điều hành hoặc bảo đảm điều kiện hoạt động chung của đơn vị được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ.

b) Tính chất của sản phẩm đầu ra: Vị trí việc làm tạo ra sản phẩm chuyên ngành, có giá trị chuyên môn độc lập và được sử dụng trực tiếp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm tạo ra sản phẩm phục vụ nội bộ hoặc hỗ trợ quá trình hoạt động của đơn vị được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ.

c) Yêu cầu về năng lực chuyên ngành: Vị trí việc làm đòi hỏi kiến thức, kỹ năng chuyên môn sâu, đáp ứng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn hoặc điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm chủ yếu yêu cầu kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ dùng chung, có thể áp dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ.

d) Vai trò trong quy trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị: Vị trí việc làm tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ công cốt lõi của đơn vị được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm có chức năng bảo đảm, phục vụ hoặc hỗ trợ quá trình đó được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ.

Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định danh mục vị trí việc làm viên chức thuộc ngành, lĩnh vực thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

Nghị định quy định, bậc nghề nghiệp của từng vị trí việc làm được quy định thống nhất trong Danh mục vị trí việc làm tại Phụ lục 2 và Phụ lục 3 ban hành kèm theo Nghị định này và được áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước. Bậc nghề nghiệp được xác định theo 05 bậc, từ bậc 1 đến bậc 5, trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 5 là bậc cao nhất.

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quy mô và mức độ phát triển, đơn vị sự nghiệp công lập xác định số bậc nghề nghiệp áp dụng đối với từng vị trí việc làm trong đơn vị nhưng không vượt quá số bậc nghề nghiệp được quy định cho vị trí việc làm đó tại Phụ lục 2 và Phụ lục 3 ban hành kèm theo Nghị định này.

Viên chức được bố trí vào một bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phù hợp với năng lực và yêu cầu nhiệm vụ được giao. Viên chức được bố trí vào bậc nghề nghiệp nào thì được xếp lương tương ứng với bậc nghề nghiệp đó theo quy định. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhiệm. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức được thực hiện theo quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.

Trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới theo quy định của cấp có thẩm quyền, viên chức được tuyển dụng, tiếp nhận theo quy định của Luật Viên chức được áp dụng Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (Bảng 3) ban hành kèm Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Việc áp dụng bảng lương thực hiện như sau:

Bậc 1 áp dụng lương viên chức loại B.

Bậc 2 áp dụng lương viên chức loại AO.

Bậc 3 áp dụng lương viên chức loại A1.

Bậc 4 áp dụng lương viên chức loại A2, nhóm 1 (A2.1).

Bậc 5 áp dụng lương viên chức loại A3, nhóm 1 (A3.1).

Viên chức được bố trí đảm nhiệm vị trí việc làm quản lý quy định tại Nghị định này được xếp lương theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ đang giữ và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, quản lý tương ứng với vị trí đảm nhiệm theo quy định của pháp luật tiền lương hiện hành.

Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

Theo Nghị định, tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm bao gồm viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý.

Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện như sau:

a) Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 5 thì tỷ lệ ở bậc 5 không vượt quá 30% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.

Tỷ lệ ở bậc thấp hơn gần nhất với bậc 5 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.

Tỷ lệ ở các bậc thấp hơn còn lại là tỷ lệ còn lại ở vị trí việc làm đó do đơn vị sự nghiệp công lập xác định cụ thể.

b) Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 4 thì tỷ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.

Tỷ lệ ở các bậc thấp hơn còn lại là tỷ lệ còn lại ở vị trí việc làm đó do đơn vị sự nghiệp công lập xác định cụ thể.

c) Trường hợp vị trí việc làm chỉ xác định sử dụng 2 bậc nghề nghiệp thì tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.

Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên; đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức khoa học và công nghệ công lập hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành được quyết định vị trí việc làm thì đơn vị sự nghiệp công lập được quyết định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm khác với tỷ lệ quy định nêu trên phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.

Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm không áp dụng đối với những vị trí việc làm không xác định bậc hoặc chỉ có duy nhất một bậc.

Trường hợp chưa đủ số lượng theo tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm ở mỗi bậc thì số còn thiếu không được cộng vào bậc thấp hơn (liền kề hoặc không liền kề).

Cơ quan, đơn vị có thẩm quyền phê duyệt vị trí việc làm thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

vietnamplus.vn

Chủ đề Chủ trương - Chính sách

Đọc thêm

An toàn điện "nóng" nghị trường HĐND tỉnh

An toàn điện "nóng" nghị trường HĐND tỉnh

Giám đốc Sở Công Thương Hà Tĩnh Lê Trung Phước là "tư lệnh" ngành đầu tiên đăng đàn phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 5 - HĐND tỉnh khóa XIX.
Quyết định các cơ chế, chính sách, nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm kịp thời, khả thi, hiệu quả

Quyết định các cơ chế, chính sách, nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm kịp thời, khả thi, hiệu quả

Kỳ họp thứ 5, HĐND tỉnh Hà Tĩnh khóa XIX có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH 6 tháng đầu năm, quyết định những vấn đề lớn của tỉnh thời gian tới, tạo nền tảng cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu của cả nhiệm kỳ.
Quyết sách của HĐND tỉnh vì dân, vì sự phát triển bền vững của Hà Tĩnh

Quyết sách của HĐND tỉnh vì dân, vì sự phát triển bền vững của Hà Tĩnh

Đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Tĩnh nhấn mạnh, trước yêu cầu phát triển ngày càng cao của tỉnh nhà, trước niềm tin và kỳ vọng của cử tri và Nhân dân, mỗi quyết sách của HĐND tỉnh phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của Nhân dân và sự phát triển bền vững của tỉnh.
Tạo đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Tạo đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, lấy sản phẩm đầu ra, hiệu quả ứng dụng, khả năng thương mại hóa và mức độ đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội làm thước đo đánh giá kết quả thực hiện phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Kết luận về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp

Kết luận về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp

Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp.
Khai mạc Hội báo toàn quốc 2026

Khai mạc Hội báo toàn quốc 2026

Chào mừng kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với UBND Thành phố Hải Phòng tổ chức Hội Báo toàn quốc 2026 tại Trung tâm Hội nghị - Biểu diễn thành phố Hải Phòng từ ngày 19 - 21/6/2026.
Định hướng phát triển xã Toàn Lưu thành địa bàn năng động, giàu tiềm năng của tỉnh

Định hướng phát triển xã Toàn Lưu thành địa bàn năng động, giàu tiềm năng của tỉnh

Chiều 18/6, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thiên Định chủ trì buổi làm việc của Thường trực Tỉnh uỷ với Ban Thường vụ Đảng ủy xã Toàn Lưu về kết quả công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và thực hiện nhiệm vụ phát triển KT - XH thời gian qua; phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới.
Huy động tối đa các nguồn lực, xây dựng Toàn Lưu trở thành địa bàn phát triển năng động của tỉnh

Huy động tối đa các nguồn lực, xây dựng Toàn Lưu trở thành địa bàn phát triển năng động của tỉnh

Đồng chí Phan Thiên Định - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đảng ủy xã Toàn Lưu đổi mới tư duy mạnh mẽ hơn nữa, chủ động nắm bắt thời cơ, huy động tối đa các nguồn lực, xây dựng xã trở thành địa bàn phát triển năng động của tỉnh.
Tập trung hoàn thiện nội dung trình các kỳ họp HĐND tỉnh sắp tới

Tập trung hoàn thiện nội dung trình các kỳ họp HĐND tỉnh sắp tới

Đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đề nghị các cơ quan, đơn vị tập trung cao độ, tiếp tục rà soát kỹ từng khâu, từng nội dung, khẩn trương đôn đốc các cơ quan soạn thảo hoàn thiện hồ sơ, tài liệu, bảo đảm tiến độ, chất lượng và tính khả thi của từng nội dung trình 2 kỳ họp HĐND tỉnh Hà Tĩnh.
Xin chào,
Tôi là Chatbot của
Báo Hà Tĩnh
Hãy hỏi tôi bất kỳ điều gì bạn cần biết về
Báo Hà Tĩnh nhé. Tôi sẵn sàng hỗ trợ!