Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với “Nữ công thắng lãm”

(Baohatinh.vn) - Tiếp cận với y học của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, giới y khoa thường tìm hiểu các cuốn sách: “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”, “Thượng kinh ký sự”... Tuy nhiên, có một tác phẩm khá đặc biệt, rất ít người để ý đến, đó là “Nữ công thắng lãm”.

“Nữ công thắng lãm” là tác phẩm được Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác viết vào năm 1760 nhưng phải đến năm 1971 mới được Lê Trần Đức (Viện Nghiên cứu Đông y) dịch phiên âm và phụ giải, Nhà Xuất bản Phụ nữ xuất bản. Tuy vậy, hiện cũng chỉ mới xuất bản được phần chế biến món ăn cổ truyền, còn phần về ngành nghề thì đã bị thất lạc. “Nữ công thắng lãm” là những ghi chép về cách chế biến thức ăn và những ngành nghề mà phụ nữ nông thôn thường làm như: trồng dâu, nuôi tằm, chăn nuôi, dệt vải... Đây lại là một tác phẩm khá độc đáo, không viết về nghề y nhưng lại liên quan mật thiết đến sức khỏe con người.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với “Nữ công thắng lãm”

Tác phẩm “Nữ công thắng lãm” được Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác viết vào năm 1760. (Ảnh minh họa Internet).

Ngay đầu đề “Nữ công thắng lãm”, tác giả đã nói rõ ý đồ của mình: “thắng lãm”, tức là xem xét những công việc tốt đẹp của phụ nữ. Trong phần tiểu dẫn, Lê Hữu Trác đã viết: "Sách chép tự thân nuôi tằm, truyện nói về cây dâu. Việc khung cửi bỏ không, sử sách bàn mãi... Đó là khuyên người ta nên siêng năng dệt vải để có đủ may mặc cần cho đời sống thường ngày của Nhân dân. Việc nữ công đại khái là thế. Song, khéo léo trăm nghề, biết chế ra mọi vật để dùng, thế mới gọi là “công”.

Quyển sách đã nêu khái quát các nhóm thức ăn được trình bày trong “Nữ công thắng lãm” bao gồm: loại mứt, xôi, bánh, thịt, cỗ chay, tương, rau quả muối, mắm khô, rượu, hoa thơm, loại nhuộm màu, loại đồ dùng để nấu. Có tổng cộng 152 món ăn được ghi chép lại cẩn thận, tỉ mỉ, trong đó, nhiều nhất là các món bánh với 82 loại, mứt 35 loại, xôi 16 loại, đồ ăn chay và tương mỗi thứ 9 loại. Hầu hết các món ăn đều được Lê Hữu Trác hướng dẫn cụ thể, từ việc lựa chọn nguyên liệu ban đầu, cách sơ chế, ngâm tẩm, vệ sinh, bảo quản... Phương thức chế biến được viết khá đơn giản, dễ làm nhưng rất khoa học, có tính đại chúng cao. Vật liệu để làm ra các sản phẩm đều là những thứ gần gũi, gắn bó mật thiết với cuộc sống hằng ngày như lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, vừng, đường...

Nói về vai trò của các món ăn, Lê Hữu Trác cho rằng: "Trong đời sống người ta, nếu chỉ chuộng miếng ăn ngon để thỏa mãn thị hiếu của tai, mắt, miệng, bụng, thì không khỏi thiên lệch. Vậy chẳng nhẽ món ăn lạ lùng, đồ nấu quý báu chỉ cốt để dâng cho một người hưởng mà thôi ư! Còn như những thực phẩm thờ cúng tế nơi miếu đường, làm cỗ bàn thiết đãi các khách quý, tất phải cần được điều hòa chế biến cho ngon miệng người ta, cho phong vị bữa tiệc có những món ăn ngon lành đặc biệt. Vậy cứ gì phải bắt chước nơi thôn dã chỉ cần bát rau cần thơm mà thôi".

Một trong những món ăn khá phổ biến trong dịp tết hiện nay là món mứt bí tầu, cách đây trên 250 năm, Lê Hữu Trác đã thuật lại tỉ mỉ cách làm trong sách. Hay như món bánh chưng, các công đoạn xưa cũng khá giống với ngày nay: “Rửa lá riềng đâm nhỏ vào nước lã cho đặc, lọc cái đi. Gạo nếp cái vo cho sạch để ráo. Liền tưới nước riềng ấy vào 2, 3 bận cho xanh. Rồi sẽ tưới nước tro. Như 5 bát gạo quan đồng thì tưới cho hết một bát hoa thâm nước tro, rồi sẽ trộn muối. Nhân thì 2 bát đậu xay ra đồ chín, trộn muối cho vừa, hành thì thái ngang, mỡ 2 tiền (miếng), lá thì rửa qua nước lã, rồi sẽ gói mà nấu cho nhừ".

Đặc biệt, hầu như mọi sản phẩm khi chế biến đều luôn được Lê Hữu Trác nhấn mạnh phải vệ sinh sạch sẽ, bảo đảm an toàn cho người dùng. Về sự ứng biến linh hoạt trong cách chế biến món ăn, ông viết: "Loại thịt, thời nay nhà bếp làm nhiều, biến chế lắm lối, vừa khéo vừa lạ. Nhưng khi ăn cứ phải dùng nước thang chế vào, cũng tùy từng loại mới thấy ngon và không nên câu nệ chuyên dùng một loại mơ muối mới khéo".

Đọc “Nữ công thắng lãm” không những hiểu biết thêm về các món ăn mà còn cảm nhận được từng mùi thơm, vị ngọt, màu sắc trong từng bữa ăn, nghệ thuật chế biến món ăn. Có thể thấy, Lê Hữu Trác đã rất tỉ mỉ, am tường trong các khâu chế biến món ăn truyền thống. Ông không những là một người quan sát mà có thể còn là một người thực hành khá thành thạo. Đặc biệt, trong “Nữ công thắng lãm”, các món ăn được Lê Hữu Trác ghi chép rất đa dạng, phong phú, ngoài những món ăn bản địa của vùng Hương Sơn thì cũng có cả những món ăn của các địa phương khác như cơm lam, cốm Vọng, tương Nhật Bản... Việc có thêm món tương Nhật Bản trong bữa ăn người Việt cũng chứng tỏ sự giao thoa văn hóa giữa Đại Việt và đất nước mặt trời mọc đã diễn ra cách đây hàng trăm năm.

Có thể nói “Nữ công thắng lãm” đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa ẩm thực của người Việt, cho thấy tinh thần lao động sáng tạo tuyệt vời của người phụ nữ Việt Nam. Ngày nay, những món ăn trong “Nữ công thắng lãm” tuy có nhiều thay đổi cho phù hợp thị hiếu, cách thức chế biến cũng đa dạng, phong phú hơn, tuy nhiên, nếu đặt trong thời điểm giữa thế kỷ XVIII thì đây có thể coi là sự ưu việt, khác biệt rất lớn của Lê Hữu Trác so với những người đương thời.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với “Nữ công thắng lãm”

“Nữ công thắng lãm” cho thấy bút lực dồi dào, khả năng viết sáng tạo vô cùng lớn của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. (Trong ảnh: Tượng của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác tại nhà thờ ở xã Quang Diệm, huyện Hương Sơn).

Đến nay, “Nữ công thắng lãm” vẫn là tư liệu quý giúp công tác nghiên cứu, khảo cứu văn hóa, phong tục tập quán một thời đã qua của dân tộc, bổ sung thêm kho tàng di sản đồ sộ của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, đồng thời nó cũng cho thấy bút lực dồi dào, khả năng viết sáng tạo vô cùng lớn của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Qua đây càng khẳng định, Lê Hữu Trác không những là một Đại danh y, nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa lớn của dân tộc, mà còn là một “chuyên gia ẩm thực” hàng đầu của Việt Nam.

Việc UNESCO vinh danh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác - một người Việt Nam ở thế kỷ XVIII đã biết quan tâm đến công việc của người phụ nữ - một tiêu chí rất quan trọng mà UNESCO hướng đến - là hoàn toàn xứng đáng.

Chủ đề NGƯỜI HÀ TĨNH

Chủ đề 300 năm Ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác

Đọc thêm

Có một Hà Tĩnh quen mà lạ

Có một Hà Tĩnh quen mà lạ

Xuyên suốt hành trình ghé thăm, “chạm” vào từng điểm đến, Hà Tĩnh trong tôi hiện lên không ồn ào, không hào nhoáng mà sâu lắng, mộc mạc và giàu bản sắc. Đó là miền quê để đến chậm, cảm lâu và khi rời đi vẫn còn muốn trở lại.
 Chữ “tâm” sáng mãi muôn đời...

Chữ “tâm” sáng mãi muôn đời...

Lễ kỷ niệm 260 năm Ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du đã khép lại nhưng dư âm về nhân cách, tài năng của danh nhân văn hóa thế giới sẽ còn lắng đọng mãi trong lòng người dân Hà Tĩnh cũng như du khách muôn phương. Trong đó, chữ “tâm” như ngọn hải đăng để hậu thế soi chiếu, làm hành trang cho sự phát triển của quê hương, đất nước.
Đại thi hào Nguyễn Du - niềm tự hào của dân tộc Việt Nam và quê hương Hà Tĩnh

Đại thi hào Nguyễn Du - niềm tự hào của dân tộc Việt Nam và quê hương Hà Tĩnh

Hà Tĩnh - vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, tự hào là quê hương của Đại thi hào Nguyễn Du - nhà thơ thiên tài của dân tộc, người đã góp phần làm rạng rỡ nền văn chương, văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế. Với di sản Truyện Kiều mang tầm vóc nhân loại, Nguyễn Du để lại cho quê hương và đất nước một giá trị tinh thần vô giá. Vì lẽ đó, Hà Tĩnh luôn coi việc bảo tồn, lan tỏa các giá trị di sản của Đại thi hào là nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng và phát triển văn hóa, góp phần khẳng định vị thế của tỉnh trong giai đoạn mới.
Ngàn năm vọng mãi!

Ngàn năm vọng mãi!

Hơn 200 năm đã qua, những áng thơ của Đại Thi hào Nguyễn Du vẫn tỏa sáng, lay động, thức tỉnh hàng triệu người trên thế giới. “Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du/Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày” (Tố Hữu). Di sản cụ để lại cho đời không chỉ trăm năm, mà là nghìn năm, trở thành tinh hoa của tâm hồn Việt, bản sắc Việt, văn chương Việt.
Đất Hồng Lam nở hoa nhân kiệt

Đất Hồng Lam nở hoa nhân kiệt

Tự bao đời, Hà Tĩnh được nhắc đến là miền “địa linh, nhân kiệt”, nơi hội tụ những giá trị bền sâu về lịch sử, văn hóa và con người. Nơi đây đã sản sinh ra nhiều văn nhân, hào kiệt, trong đó, tiêu biểu là Đại thi hào Nguyễn Du.
Giúp học sinh thấm Truyện Kiều qua thư pháp

Giúp học sinh thấm Truyện Kiều qua thư pháp

Từ tình yêu và trăn trở gìn giữ giá trị văn hóa dân tộc, cô giáo Trần Thị Ngọc Xuyến - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Tiên Điền (Hà Tĩnh) đã khởi xướng hành trình đưa Truyện Kiều vào học đường bằng những nét thư pháp truyền thống.
Hà Tĩnh - Bắc Ninh “Chiếc nôi nuôi dưỡng trang Kiều”

Hà Tĩnh - Bắc Ninh “Chiếc nôi nuôi dưỡng trang Kiều”

Từ mối duyên của Tể tướng Nguyễn Nghiễm và bà Trần Thị Tần, một cuộc kết hợp tưởng như chỉ là chuyện nhân duyên của 2 dòng họ Nguyễn - Trần đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc khi sinh ra Đại thi hào Nguyễn Du. Đó cũng là sợi dây bền chặt nối nghĩa tình quê hương Hà Tĩnh - Bắc Ninh từ quá khứ đến hôm nay.
Khi doanh nhân đam mê sưu tầm di sản Truyện Kiều

Khi doanh nhân đam mê sưu tầm di sản Truyện Kiều

Gần đây, nhiều du khách trong và ngoài nước đến Hội An (TP Đà Nẵng) bày tỏ thích thú khi được khám phá, tìm hiểu về di sản Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du tại CSO Gallery của ông Trần Hữu Tài - một doanh nhân đam mê nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa.
Nỗ lực nâng cao đời sống văn hóa cho đồng bào dân tộc thiểu số

Nỗ lực nâng cao đời sống văn hóa cho đồng bào dân tộc thiểu số

Việc triển khai Dự án 6 “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giai đoạn 2021-2025 đã tạo động lực quan trọng cho đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh.
"Chắp cánh" cho di sản Nguyễn Du và Truyện Kiều lan tỏa

"Chắp cánh" cho di sản Nguyễn Du và Truyện Kiều lan tỏa

Với nhiều hoạt động thiết thực, Quỹ Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Nguyễn Du và Truyện Kiều ở Hà Tĩnh ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc lan tỏa di sản của Đại thi hào dân tộc đến bạn bè trong nước và quốc tế.
Nghệ nhân dân gian Văn Sang – “Cánh cò” chở câu ví, giặm bay xa

Nghệ nhân dân gian Văn Sang – “Cánh cò” chở câu ví, giặm bay xa

Có những tiếng hát như chất chứa cả tình quê. Ở Nghệ nhân dân gian Trần Văn Sang, điều ấy hiện lên qua dáng dấp một cánh cò: lặng lẽ, bền bỉ và đầy khát vọng. Anh không chỉ hát, anh còn chở câu ví, giặm quê nhà đi qua nhiều hành trình mà ở mỗi chặng đường đều được đánh dấu bằng tình yêu, niềm đam mê và cả những nỗ lực, sáng tạo không ngừng. Có lẽ, chỉ những ai thực sự thuộc về dân ca mới có thể khiến nó bay xa một cách tự nhiên và bền bỉ như anh.
Nghệ nhân chật vật "giữ lửa" di sản dân ca ví, giặm

Nghệ nhân chật vật "giữ lửa" di sản dân ca ví, giặm

Nhiều năm qua, Hà Tĩnh đã nỗ lực ban hành chính sách hỗ trợ nghệ nhân và các CLB thực hành dân ca ví, giặm. Tuy vậy, ở các địa phương, với kinh phí khiêm tốn, việc duy trì đam mê ví, giặm lại không hề dễ dàng.
Trang trọng Lễ kỷ niệm 310 năm Ngày sinh Thám hoa Phan Kính

Trang trọng Lễ kỷ niệm 310 năm Ngày sinh Thám hoa Phan Kính

Kỷ niệm 310 năm Ngày sinh Thám hoa Phan Kính là dịp để thế hệ đi sau bày tỏ lòng tri ân sâu sắc công lao to lớn của cụ đối với đất nước, quê hương Hà Tĩnh, từ đó hành động thiết thực hơn trong việc bảo tồn, phát huy những giá trị mà cụ để lại cho hậu thế.
Danh nhân Phan Kính - Lưỡng quốc Đình nguyên Thám hoa

Danh nhân Phan Kính - Lưỡng quốc Đình nguyên Thám hoa

Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam có một danh nhân người Hà Tĩnh tài năng, phẩm hạnh lỗi lạc, không chỉ được trong nước ghi nhận mà còn được triều đình nhà Thanh (Trung Quốc) khâm phục, đó là Thám hoa Phan Kính quê xã Trường Lưu.