“Liệt sỹ” Đậu Đức Nam và hành trình tìm lại danh phận

Người làng gọi ông là liệt sỹ bởi tên, tuổi, quê quán của ông hiện đang “nằm” tại Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn - tỉnh Gia Lai. Số phận của “liệt sĩ sống” Đậu Đức Nam (quê ở thôn Hòa Bình, xã Phù Việt, Thạch Hà) với người đồng đội đã hy sinh bị hoán đổi trong cuộc chiến tranh khốc liệt và đến bây giờ, vẫn là nỗi ám ảnh đối với người còn sống.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp gỡ ông Đậu Đức Nam (người mặc bộ quân phục màu trắng) và các cựu tù của Nhà lao Phú Quốc
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp gỡ ông Đậu Đức Nam (người mặc bộ quân phục màu trắng) và các cựu tù của Nhà lao Phú Quốc

Chiếc đồng hồ định mệnh

Trên khuôn ngực người chiến sỹ cộng sản lấp lánh những huân chương. Đó là minh chứng cho một thời anh dũng chiến đấu của chiến sỹ Đậu Đức Nam. Những lần vào sinh ra tử trên chiến trường, những đòn roi tra tấn dã man của địch trong nhà lao Phú Quốc khiến đôi mắt ông không còn tinh anh, đôi chân không còn vững chãi, mái đầu bạc trắng còn vết tích của bom đạn nhưng trí nhớ của ông thì vẫn còn rất minh mẫn. Qua trí nhớ ấy, những “thước phim” về cuộc đời của “liệt sỹ sống” Đậu Đức Nam dần được tái hiện một cách sống động, đầy bi tráng nhưng cũng thật hào hùng!

Đậu Đức Nam sinh năm 1942, tại xã Phù Việt. Năm 1962, ông lên đường nhập ngũ và được bố trí vào Sư đoàn 341 đóng quân tại Vĩnh Linh. Năm 1964, đơn vị của ông vào chiến đấu giải phóng A Sao, A Lưới (Thừa Thiên Huế). Với sự thông minh, nhanh nhạy, ông được cử đi học một khóa huấn luyện thông tin rồi về công tác tại Sư đoàn 325 với chức Đài trưởng trinh sát đặc công (truyền tin về Bộ Tư lệnh).

“Liệt sỹ” Đậu Đức Nam bày tỏ nỗi day dứt khi chưa thể trả lại tên cho đồng đội.
“Liệt sỹ” Đậu Đức Nam bày tỏ nỗi day dứt khi chưa thể trả lại tên cho đồng đội.

Trước giờ phút cùng đồng đội vượt Trường Sơn vào Tây Nguyên, ông được chị gái tặng một chiếc đồng hồ đeo tay. Cả đơn vị lúc ấy chỉ có vài ba chiếc đồng hồ nên quý lắm, thỉnh thoảng đồng đội mượn đeo để biết vào ca trực tuyến. Và chiếc đồng hồ ấy chính là “vật chứng” tráo đổi số phận giữa ông và người đồng đội, biến ông thành “liệt sỹ sống”.

Năm 1965, Sư đoàn của Đậu Đức Nam được lệnh vào chiến đấu ở chiến trường B3 Tây Nguyên. Trên đường hành quân, vào đến Kon Tum, ông bị sốt rét ác tính và được xác định đã tử vong. Khi chuẩn bị chôn cất thì đồng đội phát hiện tim của ông vẫn còn thoi thóp nên đưa về chữa trị. Ngày 5/6/1967, quân địch bắt được sóng ra-đa và tập kích đài vô tuyến. Trong trận chiến ác liệt không cân sức ấy, tổ đài 4 chỉ còn mỗi ông và đồng chí báo vụ viên Trần Văn Vu (quê ở Nông Cống, Thanh Hóa). Trần Văn Vu trúng đạn, ông đã băng bó cho bạn rồi dùng xăng tiêu hủy đài, tài liệu và tử thủ. Ngay lúc đó, một quả đạn pháo rơi trúng hầm làm ông ngất lịm. Sau đó, ông bị giặc bắt và chuyển ra nhà tù Phú Quốc (đầu tháng 9/1967).

Tại “địa ngục trần gian” này, Đậu Đức Nam đã gặp Nguyễn Huy Phước (quê ở Diễn Châu, Nghệ An) - chính trị viên cùng đơn vị, người đã tự tay chôn xác Trần Văn Vu nhưng nghĩ là Nam vì lúc đó trên tay Vu còn đeo đồng hồ của Nam. Giây phút định mệnh biết tin mình đã được báo tử dù vẫn còn sống, ông đau đáu nghĩ về quê hương, nơi những người thân yêu của ông ở quê nhà đang thắp nhang trên bàn thờ của mình. Ông cũng không khỏi đau nhói khi nghĩ đến số phận của người bạn cùng chiến đấu. Và cho đến bây giờ, Đậu Đức Nam vẫn day dứt vì chưa thể trả lại tên cho người đồng đội xấu số Trần Văn Vu.

6 năm ở “địa ngục trần gian”

6 năm ở nhà tù Phú Quốc cũng là thời gian Đậu Đức Nam phải sống trong đau đớn, bĩ cực. Trong tù, Đậu Đức Nam cùng một số đồng chí thành lập đội cảm tử tiếp tục đấu tranh và tìm cách đào hầm vượt ngục để sớm trở về cầm súng chiến đấu. Tại khu trại A1, ông là người đầu tiên khởi xướng việc đấu tranh cho tù nhân được đào giếng lấy nước sinh hoạt. Ông nghĩ ra sáng kiến lợi dụng đào giếng để đào hầm nhưng không thành.

Sự việc đào hầm bị bại lộ, lập tức Đậu Đức Nam bị Bảy Nhu (Trần Văn Nhu) - tên cai ngục tàn ác nhất trong lịch sử Việt Nam tra tấn vô cùng dã man. Ông nhớ lại: “Tôi đã bị đục 6 cái răng hàm trên, đập dập ngón tay, ngón chân, đóng đinh ghim vào 10 đầu ngón tay, nhốt vào chuồng cọp kẽm gai, bắt dầm mưa dãi nắng nhiều ngày. Hết nhốt vào chuồng cọp, tên Nhu lại nhốt tôi vào nhà biệt giam B2…”.

Từ 1968-1969, địch đưa Đậu Đức Nam sang khu B2, ở đây, ông đã đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi cho anh em trong trại giam. Sau đó, ông cùng một số anh em đào hầm ở khu B2, giúp 32 cán bộ, chiến sĩ thoát ra. Khi địch phát hiện, ông tiếp tục bị tra tấn dã man nhưng Đậu Đức Nam vẫn giữ vững ý chí của người cộng sản. Năm 1970, ông cùng tổ chức Đảng với đồng chí Trương Tấn Sang ở phòng 6 khu B4 đấu tranh chống đội “chiêu hồi” (phản động), tuyệt thực 9 ngày đòi dân sinh, dân chủ, sau đó bị đưa về khu A4. Tại đây, ông và đồng đội dùng nắp cà men và thìa ăn cơm tiếp tục đào hầm ở ngay dưới chỗ nằm.

Đêm 23, sáng 24/12/1971, đường hầm tại khu A4, dài hơn 70m xuyên qua 4 dãy nhà giam, qua giao thông hào và hàng rào điện tử của địch thông ra ngoài, sau gần 6 tháng đã được đào xong. Từ đây, 42 chiến sĩ đã thoát được ra ngoài nhưng trên đường về bị địch phát hiện và truy quét, số thì hy sinh, số thì bị bắt lại, một số thoát được trở về tiếp tục cầm súng chiến đấu. Đậu Đức Nam vẫn bị kẹt lại trong tù với những đòn tra tấn dã man của địch. Đến năm 1973, ông cùng các tù binh khác được trao trả theo Hiệp định Paris.

Day dứt thời bình

Sau thời gian an dưỡng, năm 1974, trở về quê hương, chiến sỹ Đậu Đức Nam lên trình diện với xã và để cắt chế độ liệt sỹ nhưng xin giữ lại giấy báo tử và bằng Tổ quốc ghi công để làm kỷ niệm thiêng liêng trong cuộc đời. Ông mong một cuộc sống bình yên ở quê nhà nhưng hàng xóm, láng giềng lại cho rằng ông là “chiêu hồi” và mang bệnh tật nên ai cũng dị nghị, xa lánh. Đậu Đức Nam buộc phải rời quê hương, ra Bắc Giang lập nghiệp. Tại đây, ông đã quen và kết hôn với một cô giáo làng, sinh được 4 người con.

Thế nhưng, số phận lại trêu ngươi. Ông bị nhiễm chất độc da cam khiến một đứa con không thể sống được, còn một đứa thì tuổi lớn nhưng người lại mang hình hài của trẻ con. Sau đó, gia đình ông vào TP Hồ Chí Minh sinh sống bằng nghề nấu rượu, nuôi lợn.

Từ năm 2005, cuộc sống đã bớt phần khó khăn, Đậu Đức Nam bắt đầu khăn gói trở về chiến trường xưa, về lại nhà tù Phú Quốc để tìm mộ đồng đội. Đến nay, ông đã tìm được 14 mộ liệt sỹ, trong đó có ngôi mộ tập thể gần 200 hài cốt. Ông Nam tâm sự: “Tôi vẫn day dứt vì chưa biết làm thế nào để trả lại danh phận cho Trần Văn Vu”.

Ông Nam tâm sự: “Tôi vẫn day dứt vì chưa biết làm thế nào để trả lại danh phận cho Trần Văn Vu”.
Ông Nam tâm sự: “Tôi vẫn day dứt vì chưa biết làm thế nào để trả lại danh phận cho Trần Văn Vu”.

Hiện nay, đã ngoài 70 tuổi nhưng CCB Đậu Đức Nam tham gia rất nhiều hoạt động xã hội. Từ tổ trưởng tổ dân phố đến chi hội trưởng hội cựu chiến binh, trưởng ban mặt trận khối phố, trưởng ban cựu tù chính trị và tù binh… Ông đã được tặng nhiều danh hiệu cao quý: 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng, 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, 2 kỷ niệm chương…

Ông Nguyễn Bá Du - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Phù Việt cho biết: “Trước đây, do hiểu lầm nên dân làng đã có định kiến với Đậu Đức Nam. Thực ra, ông là một người con ưu tú của quê hương. Với những công lao của ông Nam, hiện tại, địa phương đang hoàn tất mọi thủ tục để cấp đất cho ông theo đúng quy định đối với người có công và ông đang được đề nghị làm hồ sơ công nhận Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Đọc thêm

Mang "đông ấm" đến những trẻ em khó khăn

Mang "đông ấm" đến những trẻ em khó khăn

Những ngày qua, khi những đợt gió mùa đông ùa về, Chi đoàn Công an xã Lộc Hà đã triển khai mô hình “Gian hàng 0 đồng” nhằm hỗ trợ người dân hoàn cảnh khó khăn.
Giới hạn nào cho trẻ trên mạng xã hội?

Giới hạn nào cho trẻ trên mạng xã hội?

Sự độc hại của mạng xã hội đã tác động đến khá nhiều trẻ em ở Hà Tĩnh trên nhiều mặt. Và, cứ sau 1 vụ việc nào đó, xã hội lại đặt câu hỏi "giới hạn nào cho trẻ trên mạng xã hội"?
Hành trình giảm nghèo bền vững ở Mai Phụ

Hành trình giảm nghèo bền vững ở Mai Phụ

Cả hệ thống chính trị xã Mai Phụ (Hà Tĩnh) đã và đang vào cuộc đồng bộ, quyết liệt, tạo nên những chuyển biến rõ nét và thực chất trong công tác giảm nghèo bền vững.