Từ cánh đồng lúa giảm phát thải, làng nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn đến những cánh rừng được quản lý bền vững, nông nghiệp sinh thái đang hiện hữu trên nhiều vùng đất Hà Tĩnh. Đằng sau những chuyển động ấy là sự đổi thay trong nếp nghĩ, cách làm của người nông dân, từng bước nâng cao giá trị kinh tế gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường và gìn giữ hệ sinh thái tự nhiên.
Từng tất bật tìm cách đưa nước vào đồng mỗi khi mặt ruộng khô, giờ đây, ông Tô Đăng Đông (thôn Vượng Lộc, xã Can Lộc) lại chủ động để ruộng lúa có những khoảng thời gian “nghỉ nước”. Sự thay đổi tưởng chừng trái với kinh nghiệm “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” bắt đầu từ khi ông tham gia mô hình canh tác lúa giảm phát thải, áp dụng kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ (AWD).
Ông Đông chia sẻ: “Ban đầu, tôi cũng bán tín bán nghi lắm nhưng kết quả thực tế cho thấy đã đi đúng hướng. Ruộng giảm được 2 lần bơm nước nhưng cây cứng cáp, bộ rễ khỏe nên ít đổ ngã do giông lốc, hạn chế sâu bệnh. Vụ xuân năm 2026, năng suất đạt hơn 4,3 tạ lúa tươi/sào (cao hơn các ruộng khác 0,3 tạ/sào), công bơm nước, tiền phun thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) cũng giảm”.
Năm 2026 đánh dấu bước chuyển từ thí điểm sang triển khai đồng loạt mô hình canh tác lúa giảm phát thải trên quy mô lớn tại Hà Tĩnh với tổng diện tích hơn 8.440 ha/2 vụ, thu hút gần 17.000 hộ dân tham gia, giảm phát thải hơn 40.600 tấn CO2 tương đương. Nhiều địa phương có kết quả triển khai tốt như Xuân Lộc 700 ha, Thiên Cầm 550 ha, Đức Thịnh 480 ha…
Từ việc thay đổi phương thức canh tác, một câu chuyện mới cũng đang được kể trên những đồng lúa Hà Tĩnh: nông dân không chỉ sản xuất mà còn có thể trở thành những người tạo ra tín chỉ carbon. Ông Phan Tiến Thành - Quản lý Phát triển kinh doanh Công ty TNHH Green Carbon Japan Việt Nam cho biết: “Ngày 16/10/2026, Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam - Nhật Bản đã thống nhất các quy tắc, hướng dẫn triển khai Cơ chế tín chỉ chung (JCM). Chúng tôi dự kiến đưa Hà Tĩnh tham gia chương trình hợp tác về giảm phát thải này. Ngoài tạo thêm giá trị kinh tế cho người nông dân, tiềm năng phát triển còn nằm ở khả năng xây dựng thương hiệu lúa gạo giảm phát thải, nâng cao giá trị sản phẩm, góp phần xây dựng nền nông nghiệp sinh thái (NNST), bền vững”.
Tại thôn Kỳ Phú (xã Kỳ Anh), hành trình sản xuất NNST lại bắt đầu từ cách người nông dân chăm sóc đất đai, gìn giữ hệ sinh thái đồng ruộng. Ông Hoàng Minh Luyến - Tổ trưởng Tổ hợp tác trồng lúa hữu cơ Phú Minh chia sẻ: “Từ sau chuyển đổi ruộng đất năm 2021, trên diện tích 15 ha, bà con canh tác theo hướng hữu cơ dùng mạ khay, máy cấy để giảm 1/2 lượng giống; không đốt rơm rạ; 100% sử dụng phân hữu cơ, phân chuồng ủ vi sinh; không phun thuốc BVTV. Đến nay, đất đai giàu dưỡng chất; cá, cua đồng cũng sinh sôi nhiều hơn; giá bán lúa tăng gấp đôi so với canh tác truyền thống. Chúng tôi đang vận động bà con mở rộng thêm 10 ha trong năm 2027”.
Trong giai đoạn 2021-2025, một số mô hình NNST, hữu cơ, tuần hoàn trong lĩnh vực trồng trọt bước đầu được hình thành. Điển hình như: liên kết sản xuất 480 ha lúa hữu cơ theo chuỗi giá trị của Công ty CP Tập đoàn Quế Lâm; hơn 220 ha lúa áp dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI); phát triển nhiều mô hình lúa - cá, lúa - cá - niễng, lúa - rươi tại các xã, phường như: Kỳ Anh, Kỳ Khang, Đức Quang, Bắc Hồng Lĩnh…; hơn 100 ha cây trồng được cấp chứng nhận hữu cơ; 360 ha sản xuất theo hướng hữu cơ; gần 5.000 ha lúa sử dụng chế phẩm sinh học phân hủy rơm rạ... Theo Chi cục Trồng trọt và Chăn nuôi Hà Tĩnh, trong trồng trọt, canh tác sinh thái, hữu cơ có thể giúp giảm 20-30% lượng thuốc BVTV; phương pháp thâm canh SRI giảm 30-40% chi phí phân bón, hơn 40% nước tưới, tăng năng suất khoảng 10%; giá lúa tươi cao hơn 30-40% so với canh tác thông thường.
Ông Trịnh Đức Toàn - Phó Viện trưởng phụ trách Viện KHKT Nông nghiệp Bắc Trung Bộ nhận định: “Hà Tĩnh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển NNST. Những mô hình được triển khai thời gian qua đã bước đầu khẳng định hiệu quả trong nâng cao năng suất, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động đến môi trường; là cơ sở thực tiễn quan trọng để tiếp tục mở rộng quy mô các mô hình, thúc đẩy phát triển NNST những năm tiếp theo”.
Đằng sau những chuyển động ấy là kết quả của quá trình tổ chức lại sản xuất, tháo gỡ tình trạng ruộng đất nhỏ lẻ, manh mún cản trở sự phát triển đồng bộ, hiện đại. Theo báo cáo của Sở NN&MT, đến nay, với đòn bẩy từ chính sách, toàn tỉnh đã thực hiện tập trung, tích tụ hơn 15.100 ha ruộng đất; xây dựng hệ thống hạ tầng tương đối đồng bộ; hình thành trên 300 cánh đồng lớn quy mô hơn 20 ha/cánh đồng; hơn 85% số hộ được canh tác trên 1 thửa tại các diện tích đã chuyển đổi, tích tụ.
ĐIỀU ĐÁNG GHI NHẬN LÀ BÀ CON THAY ĐỔI TRONG CÁCH THỨC SẢN XUẤT NHƯ SỬ DỤNG ĐỆM LÓT SINH HỌC GIẢM Ô NHIỄM, HẠN CHẾ DỊCH BỆNH; CHẤT THẢI CHĂN NUÔI ĐƯỢC XỬ LÝ THÀNH PHÂN BÓN; SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TRONG TRỒNG TRỌT…
Tư duy NNST cũng đang từng bước lan tỏa vào đời sống nông thôn với sự hình thành các làng nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn. Tại xã Thạch Lạc, mô hình chăn nuôi lợn theo chuỗi liên kết đã thu hút 17 hộ tham gia với tổng đàn khoảng 600 con; hơn 100 hộ dân đăng ký phát triển kinh tế vườn hộ theo hướng hữu cơ, tuần hoàn. Ông Dương Kim Huy - Tổ trưởng Tổ hợp tác nông nghiệp theo chuỗi liên kết giá trị Quế Lâm xã Thạch Lạc chia sẻ: “Đã có 5 hộ xuất bán lợn, lợi nhuận đạt 1-1,5 triệu đồng/con; được bao tiêu ổn định đầu ra. Điều đáng ghi nhận là bà con thay đổi trong cách thức sản xuất như sử dụng đệm lót sinh học giảm ô nhiễm, hạn chế dịch bệnh; chất thải chăn nuôi được xử lý thành phân bón; sử dụng chế phẩm sinh học trong trồng trọt…”.
Cùng xu thế đó, xã Kim Hoa có 20 mô hình chăn nuôi lợn, trồng cây nhân trần làm dược liệu, chăn nuôi hươu, phát huy lợi thế kinh tế khu vực vườn đồi, nâng cao giá trị cây trồng, vật nuôi bản địa. Dù mới triển khai, các mô hình này bước đầu cho thấy hiệu quả trong sản xuất, với 100% chất thải chăn nuôi được xử lý thành phân bón, từng bước hạn chế sử dụng thuốc BVTV, khai thác hiệu quả tài nguyên, hình thành chu trình sản xuất tuần hoàn, gắn lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển nông thôn bền vững.
Giữa đại ngàn phía Tây Hà Tĩnh, những cánh rừng từng được tính toán giá trị chủ yếu qua mỗi kỳ khai thác gỗ nay đang được nhìn nhận trong mối quan hệ rộng lớn hơn giữa sinh kế, môi trường và hệ sinh thái tự nhiên. Hành trình ấy được khởi đầu từ những thay đổi không dễ dàng trong tư duy từ “khai thác truyền thống” sang “quản lý bền vững”.
Cuối năm 2017, tiếp cận Chương trình UN-REDD Việt Nam và Tổ chức chứng nhận quốc tế GFA - Cộng hòa Liên bang Đức, ông Võ Văn Biển đã cùng các cộng sự hình thành Liên hiệp HTX Chứng chỉ rừng Tây Kim (xã Sơn Kim 1) do ông làm giám đốc. Chỉ một năm sau, gần 400 ha rừng keo tại xã Sơn Hồng đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC, đáp ứng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về kinh tế, môi trường và trách nhiệm xã hội với 10 nguyên tắc, 70 tiêu chí và 206 chỉ số.
Ông Biển chia sẻ: “Bây giờ, nhiều người dân chủ động chuyển từ trồng, khai thác keo non sang xây dựng rừng gỗ lớn 7-10 năm, giúp nâng giá trị kinh tế khoảng 30% so với rừng gỗ nhỏ. Liên hiệp HTX đã có hơn 6.100 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC. Gỗ keo FSC được liên kết với Công ty TNHH MTV VBE Hà Tĩnh (xã Sơn Tây) để chế biến viên gỗ nén xuất khẩu. Suốt gần 10 năm qua, khu vực rừng có chứng chỉ FSC không xảy ra cháy, mạch nước ngầm dồi dào hơn, hỗ trợ điều tiết dòng chảy, giảm nguy cơ lũ từ thượng nguồn về miền xuôi”.
Từ những diện tích ban đầu tại xã Sơn Hồng, mô hình quản lý rừng bền vững từng bước được nhân rộng. Đến nay, Hà Tĩnh có gần 39.400 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC. Theo ông Lê Hữu Tuấn - Trưởng phòng Bảo vệ và Phát triển rừng (Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh), việc phát triển rừng gỗ lớn gắn với quản lý rừng bền vững phù hợp với Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, góp phần nâng cao giá trị lâm sản, sử dụng hiệu quả tài nguyên rừng, tạo sinh kế bền vững cho người dân, đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, hệ sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học.
Thế nhưng, để giữ rừng lâu hơn, người dân còn phải giải bài toán sinh kế trong những năm chờ cây đến tuổi khai thác. Tại xã Sơn Tây, 4 năm qua, ông Nguyễn Quốc Trung (thôn Kim Thành) đã thử nghiệm đưa cây dược liệu thiên niên kiện vào trồng dưới tán keo, từng bước mở rộng lên 8 ha. Ông Trung cho biết: “Từ khi trồng thêm thiên niên kiện, gia đình có thể tận dụng diện tích này để tạo nguồn thu, ước đạt 45-50 triệu đồng/ha sau chu kỳ 3-4 năm”.
Từ những mô hình tiên phong, đến nay, Hà Tĩnh đã phát triển hơn 1.300 ha cây dược liệu thiên niên kiện dưới tán rừng với sự tham gia của hàng trăm tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Nguồn sinh kế bổ sung từ đây giúp người dân có thêm điều kiện kinh tế phát triển rừng gỗ lớn; góp phần nâng cao đa dạng sinh học, giữ độ ẩm cho đất, hạn chế xói mòn, rửa trôi.
Trong xu thế chuyển đổi xanh toàn cầu, tín chỉ carbon đang dần trở thành một “tài sản xanh” giàu tiềm năng, mở ra nguồn lực tài chính mới cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Với hơn 311.700 ha đất có rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm gần 70%, Hà Tĩnh có nhiều lợi thế để khai thác giá trị từ thị trường này. Đặc biệt, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, đã mở thêm hành lang pháp lý để phát huy nguồn lực này, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam.
Quản lý gần 20.000 ha rừng tự nhiên, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn (xã Sơn Tây) đang sở hữu một “bể hấp thụ carbon” tự nhiên tiềm năng. Đón đầu xu hướng thị trường xanh, đơn vị đã chủ động đo đếm, đánh giá trữ lượng carbon để định hướng phát triển bền vững. Ông Trần Trung Anh - Phó Giám đốc Công ty chia sẻ: “Chúng tôi là đơn vị đầu tiên trong cả nước được cấp chứng chỉ “Quản lý rừng theo hướng bảo tồn các dịch vụ hệ sinh thái tập trung vào việc duy trì trữ lượng carbon rừng”. Việc quản lý, bảo tồn hệ sinh thái, tập trung duy trì trữ lượng carbon theo tiêu chuẩn quốc tế mở ra cơ hội tiếp cận tài chính xanh, thị trường carbon tự nguyện. Theo tính toán, gần 20.000 ha rừng lưu trữ khoảng 150-160 nghìn tấn carbon/năm, có thể thu về giá trị lớn để tái đầu tư bảo vệ rừng”.
Bên cạnh đó, việc triển khai Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) cũng đang đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải, hỗ trợ phát triển sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân, đặc biệt là các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng. Từ năm 2022 đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Hà Tĩnh giải ngân hơn 160,8 tỷ đồng từ nguồn ERPA. Trong đó, chương trình hỗ trợ quản lý, bảo vệ hơn 180.000 ha rừng; làm giàu và nuôi dưỡng trên 1.500 ha rừng; hỗ trợ phát triển sinh kế, nâng cao đời sống người dân như xây đường, nhà văn hóa thôn…
NHIỀU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP CHỦ LỰC CÓ BƯỚC CHUYỂN RÕ NÉT VỀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG, THƯƠNG HIỆU VÀ GIÁ TRỊ TRÊN THỊ TRƯỜNG, GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG, DUY TRÌ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG TOÀN NGÀNH BÌNH QUÂN 2,5%/NĂM TRONG GIAI ĐOẠN 2021-2025.
Đánh giá về những chuyển động của nông nghiệp Hà Tĩnh thời gian qua, ông Nguyễn Thanh Hải - Phó Giám đốc Sở NN&MT cho biết: “Trên cơ sở cụ thể hóa các nghị quyết, chủ trương, định hướng của Trung ương và tỉnh, trọng tâm là Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của BCH Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Hà Tĩnh đã tập trung đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, chuyển đổi, tập trung, tích tụ ruộng đất, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phát triển sản xuất theo hướng sinh thái, hữu cơ, gắn với xây dựng vùng nguyên liệu và liên kết chuỗi giá trị. Nhiều sản phẩm nông nghiệp chủ lực như lúa gạo chất lượng cao, cam, bưởi Phúc Trạch, nhung hươu, chè công nghiệp… có bước chuyển rõ nét về năng suất, chất lượng, thương hiệu và giá trị trên thị trường, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng, duy trì tốc độ tăng trưởng toàn ngành bình quân 2,5%/năm trong giai đoạn 2021-2025”.
Những kết quả bước đầu cho thấy tiềm năng phát triển NNST đa giá trị ở Hà Tĩnh, gắn hiệu quả kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển sinh kế bền vững. Tuy nhiên, để những “giá trị xanh” không chỉ dừng lại ở các mô hình đơn lẻ mà lan tỏa trên diện rộng, trở thành động lực phát triển nông nghiệp bền vững, Hà Tĩnh vẫn còn không ít điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, nguồn lực, tổ chức sản xuất và liên kết thị trường cần được nhận diện thấu đáo và kiên trì tháo gỡ.
BÀI, ẢNH: VĂN TUẤN - THÁI OANH - NGUYỄN OANH
THIẾT KẾ: HUY TÙNG
(còn nữa)