Có những người khi rời xa cõi tạm vẫn để lại trong lòng người ở lại thật nhiều thương nhớ. Với nhà thơ Xuân Hoài, đó là nỗi nhớ lặng lẽ như mùi hương hoa dẻ trong ký ức tuổi thơ, như câu ví giặm chòng chành đâu đó giữa dòng Lam, dòng La quê nhà. Đi qua nhiều bến bờ của cuộc đời – từ bục giảng, văn đàn đến những năm tháng bệnh tật cuối đời – ông vẫn sống trọn vẹn như một “con đò dọc” trong chính câu thơ mình viết, lặng lẽ chở theo tình yêu quê hương, tình người và thi ca đi mãi trong ký ức bạn đọc.
Tôi không có cơ hội được gặp thi sĩ Xuân Hoài (1941 - 2006) ở ngoài đời nhưng tôi đã biết ông từ rất lâu qua bài thơ Chùm hoa dẻ trong sách giáo khoa thời học sinh, trong ca khúc “Núi Hồng – sông Lam” mà nhạc sĩ Quốc Việt phổ thơ ông và đặc biệt là trong những hồi ức của bạn thơ, bạn văn cùng thời của ông. Bạn bè thường gọi ông là “Người trong cõi nhớ” theo tên một tập thơ của ông và cũng là theo những tình cảm nhớ thương và sự trân trọng mà họ dành cho ông.
Các tập thơ của thi sĩ Xuân Hoài.
Còn tôi, khi tiếp cận các tư liệu về Xuân Hoài, được nhìn thấy ông nhiều hơn qua những bức ảnh suốt từ thời trai trẻ đến khi về già, lại cảm nhận về ông như câu thơ ông viết trong bài Bến Tam Soa: “Anh như đò dọc đi hoài/ Bao xuôi ngược cũng không ngoài mặt sông”. Và tôi vẫn đinh ninh rằng, bây giờ, khi đã rời cõi tạm, người thi sĩ điềm tĩnh với đôi mắt sáng và ánh nhìn trầm ấm ấy vẫn là “con đò dọc” đi mãi giữa đôi bờ thi ca. Đi mãi giữa dòng La, dòng Lam quê hương. Đi mãi trong nỗi nhớ của người ở lại...
Bây giờ, khi đọc thêm thơ ông và lần giở những tư liệu cũ, tôi nhận ra Xuân Hoài gần như chưa bao giờ rời khỏi quê hương mình trong thơ. Dẫu đi qua bao năm tháng, bao công việc, bao biến động của đời người, ông vẫn quay về với những điều mộc mạc mà vướng níu, mà làm nên căn cốt của tâm hồn con người. Đó là một làn hương dẻ, một chiều quê với khói bếp lam chiều. Đó là một dòng sông với nắng mưa khoan nhặt, với triền đê xanh ngút và những câu ví, giặm đò đưa mênh mang…
Trong hành trình đi tìm “người trong cõi nhớ” của giới văn học nghệ thuật Hà Tĩnh, càng tiếp xúc với những kỷ vật, những câu chuyện của cuộc đời thi sĩ Xuân Hoài, tôi càng thấy thơ và đời ông gần như không tách rời nhau. Xuân Hoài không cố tình dựng lên điều gì cả, thơ ông chính là những điều bình dị nhất của đời sống. Và đặc biệt, xuyên suốt trong 12 tập thơ, tôi đã thấy rõ một Xuân Hoài luôn mang theo quê hương bên mình. Chính vì thế, thơ ông giống như một góc quê cũ mà càng đi xa người ta càng thương nhớ khôn nguôi.
Cũng bởi mang trong mình một tâm hồn như thế nên dù cuộc đời đi qua nhiều ngả rẽ, Xuân Hoài vẫn không bao giờ rời xa thi ca. Dù cho ban đầu, người con xuất thân từ gia đình nho học thanh bần ở Đức Thọ ấy đã chọn xây dựng sự nghiệp bằng những con số và được nhiều người biết đến với danh xưng thầy giáo dạy Toán Bùi Xuân Huyến. Sau mười hai năm đứng trên bục giảng, từ năm 1973, ông chuyển sang công tác tại Hội Văn nghệ Hà Tĩnh. Sau này, qua những lần hợp nhất rồi chia tách tỉnh Nghệ Tĩnh, ông tiếp tục đảm nhận nhiều cương vị quan trọng trong đời sống văn hóa tỉnh nhà. Người ta nhắc đến ông như một người lãnh đạo tận tụy, một người luôn đau đáu với văn hóa, văn nghệ quê hương. Nhưng như nhiều người thừa nhận, sau tất cả những chức danh ấy, Xuân Hoài vẫn chỉ muốn được sống như một người làm thơ.
Nhiều người sẽ khó lý giải được vì sao một người bước ra từ những con số lại có thể viết mềm mại và nhiều thương nhớ đến thế. Nhưng có lẽ chính sự mực thước của một người làm nghề dạy học lại khiến thơ ông có được độ điềm đạm riêng. Thơ Xuân Hoài không cố làm người đọc choáng ngợp bằng những câu chữ dữ dội hay những ám ảnh lớn lao. Nó cứ từ tốn đi vào lòng người như cách một người giàu trải nghiệm ngồi kể lại những vui buồn mình từng đi qua.
Và có lẽ, cũng bởi thơ Xuân Hoài luôn đầy nhạc tính và hơi thở quê hương nên nhiều câu thơ của ông đã tìm được một đời sống khác trong âm nhạc. Từ “Núi Hồng – sông Lam” đến nhiều ca khúc phổ thơ khác, những câu thơ mộc mạc ấy khi đi cùng giai điệu lại càng làm hiện lên rõ hơn cái tình sâu nặng của một người con xứ Nghệ với quê hương mình. Đó không chỉ là sự gặp gỡ giữa thơ và nhạc, mà còn là sự cộng hưởng của những tâm hồn cùng mang nặng nỗi nhớ quê nhà.
Khi tiếp xúc với những bạn văn của Xuân Hoài, ngắm những kỷ vật họ còn lưu giữ về ông, nghe những câu chuyện và những tâm tình đầy thương nhớ của họ, tôi càng trân quý nhân cách của ông hơn. Điều khiến bạn bè nhớ về Xuân Hoài không gì nhiều hơn sự chân thành và tử tế trong cách ông sống với mọi người. Trong những câu chuyện nhắc về ông đều thấy thấp thoáng một Xuân Hoài đôn hậu, điềm đạm và nặng nghĩa, trọn tình. Có lẽ bởi vậy mà khi ông rời đi, điều còn lại trong lòng bạn bè không chỉ là nỗi nhớ một bạn thơ, mà còn là sự thiếu vắng của một tri kỷ trong đời sống văn chương xứ Nghệ.
Trong căn nhà nhỏ của ông ở thành Vinh, những tập bản thảo vẫn còn được người thân nâng niu gìn giữ. Có những trang giấy nét chữ run run bởi bệnh tật, có những bài thơ được vợ chép lại từ lời ông đọc trong khó nhọc. Nhìn những nét chữ run run ấy, tôi cứ lặng người đi rất lâu. Mọi thứ ở đó khiến tôi có cảm giác Xuân Hoài chưa bao giờ rời xa thế giới thi ca. Đặc biệt, càng trân trọng hơn cách mà người thi sĩ đi qua đau đớn, bất lực mà vẫn giữ được sự ấm áp, dịu dàng với người khác, với cuộc đời.
Càng về sau, thơ ông càng giàu cảm xúc và lắng xuống thành những suy ngẫm hiền lành mà day dứt về đời người, về sự mất còn, về những điều tưởng nhỏ bé nhưng theo con người ta suốt cả một đời: “Đời người như nước chảy đi/ Đã ra sông rộng, vấn chi đầu nguồn”. Đọc câu thơ ấy, tôi cứ nghĩ mãi về một Xuân Hoài của những năm cuối đời. Một người đã đi qua bao bến bờ của cuộc sống: bục giảng, văn đàn, công việc quản lý, những chuyến đi xa, những đổi thay của quê hương, những cuộc gặp gỡ rồi chia xa của đời người… để cuối cùng bình thản nhìn cuộc đời chậm trôi...
Hẳn là vì thế mà những câu thơ ông viết cho vợ ở quãng đời cuối khiến người đọc nhói lòng đến vậy: “Không nói hết, tuổi già anh lâm bệnh/ Em trở thành thầy thuốc chăm nom/ Thành thư ký đọc nghe và ghi chép/ Cho thơ anh trên báo vẫn còn”. Hay: “Anh bảo em đừng khóc/ Nhưng anh nước mắt tràn…”.
Hoặc những câu thơ ông viết về nỗi cô đơn của mình khiến người đọc nao lòng:
“Viết thư tay không cầm được bút
Điện thoại nói chẳng nên lời
Lối đi quen trở thành mất hút
Lâu rồi nhớ lắm bạn bè ơi.”
Tôi nghĩ phải yêu cuộc đời nhiều lắm người ta mới thấy đau đến thế khi không còn đủ sức bước về những lối quen cũ. Và rồi, giữa những tháng ngày bệnh tật ấy, Xuân Hoài viết:
“Bạn bè từ bao thuở
Bỗng dưng thành xa xôi
Thành người trong cõi nhớ
Ai đó đừng quên tôi”.
Thật ra, Xuân Hoài chưa bao giờ rời khỏi ký ức của những người yêu thơ xứ Nghệ. Ông vẫn ở đó, trong một mùi hương hoa dẻ bất chợt trở về giữa ký ức tuổi thơ. Trong một câu ví giặm ai đó cất lên giữa chiều muộn bên sông. Trong những trang thơ cũ đã ngả màu thời gian. Và cả trong ánh mắt nhớ thương của những người từng đi qua đời ông...
Để rồi mỗi lần đọc lại: “Anh như đò dọc đi hoài/ Bao xuôi ngược cũng không ngoài mặt sông”, tôi lại thấy Xuân Hoài dường như vẫn đang lặng lẽ xuôi ngược đâu đó giữa dòng sông của quê hương và thi ca, chưa bao giờ rời xa nỗi nhớ của người ở lại...
BÀI: ANH HOÀI
ẢNH: ĐẶNG THẮM, MỸ DUNG & TƯ LIỆU
THIẾT KẾ: HUY TÙNG