Mỗi bận gió heo may khẽ luồn qua kẽ liếp, mang theo cái se lạnh nhè nhẹ luồn qua lớp quần áo mỏng manh của lũ trẻ quê, tôi biết mùa thu đã về thật rồi. Ở dải đất miền Trung đầy nắng gió này, mùa thu không rõ nét như những vùng miền phía Bắc, nhưng nó lại được báo hiệu bằng hương lúa chín muộn ngoài đồng và mùi quả thơm ngọt trong vườn.
Những năm cuối thập niên 60, đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, chiến tranh tàn khốc, quê tôi nghèo xơ xác. Đêm xuống giữa vườn tược rậm rạp, làng quê chìm trong một màu tối đen như mực, không một ánh đèn vì thời đó chỉ được dùng đèn dầu phòng không, chống lộ sáng.
Đèn dầu phòng không là một cái hộp gỗ vuông rộng khoảng 15 cm, cao khoảng 30 cm, phía trên không nắp để thoát khí, phía dưới có đáy đặt đèn dầu và mặt trước có trổ một ô vuông để ánh sáng hắt ra trong khoảng ngắn, đủ để đọc sách, học bài. Ở ngoài xa nhìn vào hầu như chẳng thấy ánh sáng. Với loại đèn này tôi đã học hết cấp 1 trường làng. Thời đó, chỉ cần lộ một ánh đèn trong đêm là có thể hứng chịu những trận bom Mỹ tàn khốc. Tháng 10/1972, một phần làng tôi cháy rụi vì bom na-pan do một gia đình đã không tuân thủ quy định, bất cẩn để lộ ánh sáng đèn trong đêm.
Không có ánh sáng đèn, đêm về làng quê tối thui, buồn bã nên ánh trăng thời ấy là cả một hạnh phúc vô bờ của trẻ con chúng tôi. Hằng tháng chúng tôi cứ chờ đến ngày có trăng để ra cồn bãi vui chơi các trò trẻ con, nhất là trốn tìm, đánh trận giả. Vì thế Trung thu quả là cái tết tuyệt vời của trẻ thơ thời ấy. Dịp Trung thu trăng sáng chẳng thua ban ngày, chúng tôi chơi có lúc gần suốt đêm. Phụ huynh đi tìm bắt về, đánh roi lằn cả da mà vẫn không chừa. Đêm sau lại trốn đi chơi như thường.
Nhưng có lẽ khoái nhất dịp Trung thu là được phá cỗ. Thời đó mỗi làng có một chi đoàn thanh niên. Đoàn thanh niên ngoài nhiều nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu trong thời chiến thì còn có một nhiệm vụ rất đáng nói là phụ trách đội thiếu niên nhi đồng, tập múa, tập hát và tổ chức tết Trung thu. Mỗi chi đoàn được cấp vài sào ruộng tự canh tác làm cơ sở vật chất tổ chức các hoạt động. Hầu như năm nào cỗ trung thu cũng chỉ có các sản vật quê như: xôi, thịt lợn, bưởi, mía... Có năm khá hơn thì thêm vài cái kẹo Hải Hà. Nếp nấu xôi được các anh chị cấy từ mấy sào đất được cấp. Thịt, kẹo, hoa quả được đổi từ số gạo nếp còn dư dôi sau khi nấu xôi. Mỗi đứa chỉ vắt xôi, miếng thịt lợn, mấy cái kẹo, múi quả mà sung sướng chờ đợi cả năm trời. Thời đói kém, ăn cái gì cũng ngon. Vị ngon ngọt của vắt xôi, miếng thịt, cái kẹo ấy chẳng thể phai mờ trong tâm trí chúng tôi đến tận bây giờ.
Tết Trung thu những năm đó vì phải đảm bảo an toàn thời chiến nên chúng tôi không được chơi đèn kéo quân, rước đèn ông sao hát “tùng dinh” hay chơi trò “hái hoa dân chủ” lấy thưởng. Chỉ hát và múa vài bài rồi “phá” mâm cỗ đạm bạc và mọi hoạt động diễn ra dưới ánh trăng trên sân hợp tác xã trong khoảng hơn một tiếng đồng hồ. Trong những đêm phá cỗ trung thu thời chiến, dù không biết hát múa nhưng hầu như năm nào tôi cũng được dì Trọng, dì họ của tôi là Bí thư Chi đoàn yêu cầu đọc bài: “Trung thu độc lập” của nhà văn Thép Mới. Đây là bài học thuộc lòng trong sách Tập đọc lớp 1, tôi từng được đọc mẫu nhờ sự diễn cảm khi đọc. Gần 60 năm rồi tôi vẫn nhớ như in từng câu, từng chữ và cảm xúc tự hào khi đọc bài văn tuyệt vời đó trước các bạn:
“Đêm nay anh đứng gác ở trại. Trăng ngàn và gió núi bao la khiến lòng anh man mác nghĩ tới trung thu và nghĩ tới các em. Trăng đêm nay soi sáng xuống nước Việt Nam độc lập yêu quý của các em. Trăng sáng mùa thu vằng vặc chiếu khắp thành phố, làng mạc, núi rừng, nơi quê hương thân thiết của các em...
Anh nhìn trăng và nghĩ tới ngày mai...
Ngày mai, các em có quyền mơ tưởng một cuộc sống tươi đẹp vô cùng. Mươi mười lăm năm nữa thôi, các em sẽ thấy cũng dưới ánh trăng này, dòng thác nước đổ xuống làm chạy máy phát điện; ở giữa biển rộng, cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên những con tàu lớn. Trăng của các em sẽ soi sáng những ống khói nhà máy chi chít, cao thẳm, rải trên đồng lúa bát ngát vàng thơm, cùng với nông trường to lớn, vui tươi.
Trăng đêm nay sáng quá! Trăng mai còn sáng hơn. Anh mừng cho các em vui tết Trung thu độc lập đầu tiên và anh mong ước ngày mai đây, những tết Trung thu tươi đẹp hơn nữa sẽ đến với các em”.
Và cũng nhờ bài đọc thuộc lòng này, năm nào tôi cũng có quà thưởng dù đơn sơ quả thị, múi bưởi hay cái kẹo Hải Hà.
Tết Trung thu ở làng tôi với đầy đủ các hoạt động vui chơi chỉ thực sự bắt đầu lại từ 1973, sau khi đế quốc Mỹ chấm dứt hoàn toàn mọi hoạt động đánh phá miền Bắc. Tuy vậy trong chiến tranh, khó khăn đủ bề, nên mâm cỗ cũng chẳng khá hơn là mấy nhưng vui hơn vì được vui chơi thoải mái. Tôi nhớ cả tuần lễ trước rằm Trung thu năm 1973, ngoài bãi cát, dưới bóng tre, chúng tôi chỉ xoay quanh bàn tán một chủ đề duy nhất: Trung thu năm nay được rước đèn đi quanh làng. Chúng tôi tụ tập thành từng nhóm nhỏ, ríu rít bàn nhau đứa nào sẽ kiếm được múi bưởi to nhất, đứa nào xin được quả na mở mắt, đưa nào bốc thăm được kẹo Hải Hà và đặc biệt chuyện làm làm đèn kéo quân, đèn ông sao để đi chơi Trung thu.
Trong cái nghèo quay quắt, niềm vui của con trẻ không phải là thứ mua được bằng tiền, mà được chắt chiu từ sự cần mẫn của người lớn và sự thèm thuồng hồn nhiên của trẻ nhỏ. Tôi nhớ như in trong tiếng ve cuối mùa râm ran mệt mỏi trên cành phượng già, cha tôi gác lại giấc ngủ trưa để cặm cụi ngồi góc hiên nhà làm cho tôi chiếc đèn ông sao. Ông cầm con dao bén ngót, cẩn thận chẻ từng thanh tre già, vót thật nhẵn từng chiếc nan mềm dẻo. Đôi bàn tay của cha vốn thô ráp, chai sần vì dầm mưa dãi nắng vậy mà lúc làm đèn thì khéo léo đến lạ kỳ. Mùi hồ phết bằng bột gạo nếp thơm nồng, sền sệt pha trong cái bát sành sứt mẻ, trộn lẫn tiếng rèn rẹt của giấy bóng khi được miết chặt vào khung tre làm tôi rạo rực. Ngồi xổm bên cạnh cha, hai tay chống cằm nhìn chăm chú không nháy mắt, thi thoảng lại giúp cha giữ khung hoặc thổi cho hồ mau khô. Khi thắp lên, ánh đèn lung linh như đưa tôi vào thế giới cổ tích. Đó là chiếc đèn ông sao đầu đời mà tôi có được. Trong ký ức, nó đẹp hơn bất kỳ chiếc đèn ông sao nào sau này tôi được thấy. Vì nó tỏa ra thứ ánh sáng đẹp mê hồn từ tình yêu của cha.
Năm tháng trôi qua, đứa trẻ quê nghèo miền Trung ngày ấy giờ đã trên lục thập, đã bôn ba qua nhiều phố thị hiện đại, đã chứng kiến bao tết Trung thu lộng lẫy tràn ngập ánh điện đủ sắc màu. Đã thưởng thức những chiếc bánh trung thu thời thượng nhập ngoại đủ loại nhân: tiramisu, socola, matcha hay những mâm cỗ trung thu đắt tiền bày biện cầu kỳ sang trọng. Thế nhưng, tâm hồn tôi vẫn cứ mải miết đi tìm bóng dáng của vầng trăng xưa tinh khôi, trong sáng. Thứ ánh sáng điện tử kia chưa bao giờ khỏa lấp được ánh trăng lồng lộng soi bóng làng quê thời chiến thuở thiếu thời. Đêm trăng phá cỗ ở làng quê nghèo với chiếc đèn ông sao dán giấy kiếng phết hồ, mùi thị chín ngan ngát đưa hương, gương mặt sung sướng của những đứa trẻ quê, nụ cười hiền hậu của cha mẹ mãi là miền ký ức thiêng liêng, nuôi dưỡng tâm hồn tôi qua những gập ghềnh khốn khó của cuộc đời này.