Càng đọc càng thương cảm nàng Kiều
Đọc đi đọc lại Truyện Kiều không biết bao nhiêu lần, lần nào tôi cũng thấy mới mẻ, sâu sắc, thấm đẫm, tự đặt cho mình bao nhiêu câu hỏi từ những vỉa tầng ngôn từ, rồi ngâm ngợi, nghĩ suy, tìm câu trả lời…
Kim Vân Kiều truyện vốn là thiên truyện viết theo lối chương hồi với cấu trúc đề thơ - dẫn truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng khi được Nguyễn Du viết lại bằng thể thơ lục bát đã trở nên một câu chuyện với những nhân vật có đời sống nội tâm vô cùng phong phú, sâu sắc, đậm chất Việt Nam, rất Việt Nam.
Nàng Kiều từ Bắc Kinh vượt qua biên giới văn hóa đã sống trong tâm hồn của bao người Việt nhiều thế hệ. Qua hơn 2 thế kỷ, dù thời đại đã khác xa, người đọc hôm nay vẫn xót xa, thương cảm cho nhân vật nàng Kiều, vẫn thấy một phần đời sống xã hội hiển hiện với các giá trị nhân văn, tiến bộ, nhất là khi cái ác, cái xấu vẫn tồn tại, nạn buôn bán người vẫn diễn ra nhiều nơi trên thế giới và nỗi khổ của con người chưa chấm dứt…
Mộng Liên Đường chủ nhân từng nhận xét về tài năng của cụ Nguyễn: “Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột”. Qua Truyện Kiều, Nguyễn Du đã kiến tạo nên thế giới nội tâm vô cùng phong phú, tinh tế và sâu sắc, làm cho mỗi nhân vật có một đời sống riêng. Càng đọc, nàng Kiều càng hiện lên rõ rệt trước mắt tôi như con người bằng xương thịt, với dáng vẻ cao quý, sắc đẹp lộng lẫy, trái tim tràn trề khao khát tình yêu trong tuổi thanh xuân rực rỡ: Phong lưu rất mực hồng quần/ Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê; Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường; Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình…
Nỗi đau khổ của nàng Kiều đến nay vẫn lay động hàng triệu trái tim mà Thanh Tâm Tài Nhân không thể lột tả được. Đó là nỗi đau của một con người lương thiện, giàu tự trọng, dám hy sinh tình riêng vì hạnh phúc gia đình và phải chịu tủi nhục đau đớn. Cái cảm giác vừa chấp nhận thực tại “phận dầu, dầu vậy, cũng dầu” vừa xót thương vừa tự khinh rẻ bản thân: Tiếc thay trong giá trắng ngần/ Đến phong trần, cũng phong trần như ai!; Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh/ Giật mình mình lại thương mình xót xa; Mặt sao dày dạn gió sương/ Thân sao bướm chán ong chường bấy thân… khiến ta chạnh lòng nghĩ đến những cô gái bị bán qua bên kia biên giới, trở thành nô lệ tình dục mà thi thoảng thấy trên báo chí...
Khác với Kim Vân Kiều truyện, Truyện Kiều đã có những dòng tuyệt bút tả cảnh ngụ tình, giúp người đọc cảm nhận được sâu sắc nỗi nhớ cha mẹ, người yêu của Thúy Kiều. Nỗi nhớ này còn lặp lại ở rất nhiều cảnh huống của 15 năm lưu lạc với 2 khoảng thời gian chủ yếu: chiều hôm và lúc đêm khuya thanh vắng. Tôi cảm thấy càng cô đơn, bẽ bàng, nỗi nhớ của Kiều càng cô đặc lại, càng tuyệt vọng bao nhiêu, khao khát càng bùng lên bấy nhiêu:
Bẽ bàng mây sớm, đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tinh sương luống hãy rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Hay khi biểu đạt tâm trạng con người lên mọi vật: Đau lòng kẻ ở người đi/ Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm/ Trời hôm mây kéo tối rầm/ Dầu dầu ngọn cỏ, đầm đầm ánh sương; Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ; Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san...
Lời ăn tiếng nói của Nhân dân trở nên nhiệm màu
Tiếng Việt vốn đã phong phú, đa nghĩa, giàu âm thanh, được viết lên thành ca dao, được hát lên thành dân ca, được đúc kết thành tục ngữ, thành ngữ… Lời ăn tiếng nói của Nhân dân dưới tài năng, tâm hồn của Nguyễn Du càng trở nên tuyệt bút.
Chỉ riêng việc khai thác hàng loạt từ láy thuần Việt đã là tài tình, phong phú với 3 thể láy phụ âm đầu, láy vần và láy toàn phần: long lanh, sầm sập, sỗ sàng, lập lòe, khấp khểnh, gập ghềnh, tan tác, xơ xác, xôn xao, bẽ bàng, thấp thoáng... (láy phụ âm đầu); tần ngần, lao xao, lơ thơ, thong dong… (láy vần); xăm xăm, ào ào, sạch sành sanh, ầm ầm, xanh xanh, làu làu, tàng tàng… (láy toàn phần). Có những cụm từ giống nhau về phụ âm hoặc vần đứng gần nhau như: “xuân xanh xấp xỉ”, “lơ thơ tơ liễu”, “vi lô hiu hắt”... làm cho câu thơ có một âm điệu cuốn hút, dễ thuộc và thánh thót vang xa. Cũng bởi lẽ đó mà nhiều bà mẹ không biết chữ nhưng vẫn thuộc Kiều để ru con ngủ.
Đọc Truyện Kiều, tôi nhận ra nhiều từ ngữ đời thường được đặt đúng chỗ để nâng giá trị biểu cảm: “Mặt mo” (Sở Khanh), “nhờn nhợt màu da” (Tú Bà), “ruồi xanh” (bọn sai nha), “ngồi tót sỗ sàng”, “dúng dắng” (Mã Giám Sinh), “mặt sắt đen sì” (Hồ Tôn Hiến)... Đặc biệt, rất nhiều hình ảnh thường dùng trong dân ca, ca dao Việt Nam như: tơ - tằm, thuyền - bến, gương vỡ lại lành, sen - ngó, đào - mận, liễu - hoa, bèo bọt, đáy biển mò kim, phận cải duyên kim, sông cạn đá mòn, trăng khuyết - dầu hao... được sử dụng với tần số rất nhiều nhưng không giống nhau trong từng ngữ cảnh kết hợp với thể thơ lục bát tạo nên một thế giới ngôn ngữ vô cùng phong phú và trác tuyệt, dễ nhớ, dễ thuộc: Vì ai rụng cải rơi kim/ Để con bèo nổi, mây chìm vì ai; Dẫu rằng sông cạn đá mòn/Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ…
Mỗi lần đọc lại Truyện Kiều, tôi lại dừng lâu hơn ở những câu sử dụng thủ pháp lặp lại một danh từ hoặc tính từ nhiều lần, xoáy sâu tâm tư người đọc: Niềm riêng, riêng những bàng hoàng; Phận dầu, dầu vậy, cũng dầu; Nỗi riêng, riêng chạnh tấc riêng một mình; Một mình mình biết một mình mình hay; Đến phong trần cũng phong trần như ai; Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa; Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh...
Tỏa rạng nhân cách văn hóa của Đại thi hào
Đọc Kim Vân Kiều truyện, không thấy những câu đúc kết như: Đau đớn thay, phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung…!; Trong tay đã sẵn đồng tiền/ Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì!... Hoặc là những câu chan chứa thương cảm: Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người!; Chút thân quằn quại vũng lầy/ Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao?; Oan này còn một kêu trời, nhưng xa!... Hoặc cảnh đoàn viên: Mừng này lại quá mừng nào nữa chăng!...
Để Truyện Kiều có sức hấp dẫn, Nguyễn Du đã lược bớt rất nhiều tình tiết, chương đoạn và thay đổi cấu trúc đề thơ - dẫn truyện của 20 chương trong Kim Vân Kiều truyện, trước hết là bỏ rất nhiều những bài thơ theo thể cổ 5 chữ mà Kiều vịnh cảnh, họa thơ. Đây có thể coi là một sự thoát xác nhiệm màu để bước ra một chân trời mới trong nghệ thuật ngôn từ của Đại thi hào.
Trong bộ “Từ điển các tác phẩm của tất cả các thời đại và các xứ sở” (văn học, nghệ thuật, triết học, khoa học, âm nhạc) của Hiệp hội Biên soạn từ điển và Bách khoa toàn thư xuất bản ở Paris năm 1953 viết: “Ở vào thời kỳ người Việt Nam đang thoát dần ra khỏi sự lệ thuộc ngôn ngữ (Hán) để trở về với tiếng mẹ đẻ, thì công lao vĩ đại của Nguyễn Du là ông đã biết phát huy bí quyết nghệ thuật chỉ riêng ông có. Ngôn ngữ dân tộc vốn đã phong phú, giàu chất nhạc, được Nguyễn Du nâng lên tột đỉnh của nghệ thuật, mà trước đó và cả đến hôm nay, chưa có tác giả nào vươn tới được” (dẫn theo GS Phong Lê).
Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Sĩ Đại nhận xét: “Truyện Kiều là bộ từ điển bách khoa toàn thư về cuộc sống. Trước hết, Truyện Kiều là từ điển về phong cảnh Việt Nam, làm cho ta yêu ta quý vô hạn đất nước này. Truyện Kiều là từ điển về đời sống phong tục, tâm linh của người Việt. Truyện Kiều là từ điển tâm trạng… Một câu Kiều là một câu không thể viết khác, là một sự hoàn thiện. Nhưng dụng công, hoàn mỹ nhất là những câu tả về tình yêu, về cái đẹp, về mỗi niềm vui, hạnh phúc của Thúy Kiều”.
Với tài năng của Nguyễn Du, ngôn ngữ Truyện Kiều dù đi qua hơn 200 năm vẫn luôn mới mẻ, càng tìm hiểu càng lung linh và huyền diệu. Giá trị tác phẩm mang đậm bản sắc Việt Nam nhưng lại luôn mang tầm thời đại, xuyên thời đại. Nhân cách văn hóa của Đại thi hào tỏa rạng, soi rọi tâm hồn Việt, trở thành niềm tự hào của văn hóa, văn chương Việt Nam và thế giới.
Tháng 11/2025