Quốc công 國公 là một tước vị nằm trong hệ thống tôn tước được sử dụng dưới thời quân chủ, do triều đình ban cho các công thần hoặc những người có công lao đặc biệt lớn. Ở Việt Nam, tước Quốc công có từ năm 971 dưới thời Đinh Tiên Hoàng, khi triều đình ban cho Nguyễn Bặc (924 - 979) tước Định Quốc công. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thái Bình năm thứ 2 (971). Bắt đầu quy định cấp bậc văn võ, tăng đạo. Lấy Nguyễn Bặc là Định Quốc công...”[1]. Đến năm 1428, sau khi Lê Lợi lên ngôi lập nên nhà Lê sơ, hệ thống tước chế của Đại Việt dần hoàn thiện, có thêm các tước Vương, Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Lúc này, tước Quốc công đứng liền trên tước Quận công và đứng ngay dưới tước Vương.
Dưới thời quân chủ, Hà Tĩnh chỉ có 3 người được phong Quốc công: Đặng Tất (? – 1409) được phong năm 1407, dưới thời Giản Định đế; Nguyễn Xí, mất năm 1465, nhưng phải tới năm 1484, niên hiệu Hồng Đức thứ 15 mới được truy phong lên tước Cương Quốc công [2]; Ngô Văn Sở (? – 1795) được phong Chấn Quốc công (một số tài liệu chép là Ích Quốc công).
Về Quốc công Đặng Tất, ông quê làng Tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, châu Nghệ An, nay là xã Tùng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ban đầu, Đặng Tất giữ chức Hữu châu phán, sau thăng lên Đại tri châu Hóa Châu, đến tháng 4 năm 1407, ông được phong làm Quốc công.
Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “... Tháng 4 (năm 1407) khi quân Minh đánh vào hành dinh... Đại tri châu Hóa Châu là Đặng Tất nghe tin, giết viên quan nhà Minh, đem quân tới hội... Vua phong Tất là Quốc công, cùng mưu việc khôi phục” [3].
Trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam, Quốc công Đặng Tất để lại dấu ấn sâu đậm qua chiến thắng ở trận Bô Cô vào năm 1408.
Bô Cô là tên một bến đò trên sông Đáy (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Trong trận chiến này, quân Minh do Mộc Thạnh chỉ huy, quân nhà Hậu Trần do Giản Định Đế và Quốc công Đặng Tất chỉ huy. Kết quả trận đánh, quan quân nhà Hậu Trần đã tiêu diệt nhiều tướng soái, quan chức cao cấp của quân Minh như Binh bộ Thượng thư Lưu Tuấn, Đô ty Lữ Nghị, Tham chính Lưu Dục, Đô chỉ huy sứ Liễu Tông, “cùng quân mới, quân cũ đến hơn 10 vạn tên. Chỉ một mình Mộc Thạnh chạy thoát trốn về thành Cổ Lộng...” [4].
Chiến thắng trận Bô Cô đã giáng một đòn chí mạng vào uy thế quân Minh, làm phá sản kế hoạch bình định ban đầu của chúng và mở ra thời kỳ đỉnh cao của nhà Hậu Trần. Quốc công Đặng Tất là người chỉ huy, đóng vai trò rất quan trọng trong chiến thắng này.
Về Cương Quốc công Nguyễn Xí, sinh năm Đinh Sửu 1397, tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc, nay là xã Đông Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông gốc là người làng Cương Gián, huyện Nghi Xuân, nay là xã Cổ Đạm, tỉnh Hà Tĩnh.
Nguyễn Xí là khai quốc công thần khai quốc thời Lê sơ, từng giữ các chức Quan chính sự kiêm Tri từ tụng, Nhập nội đô đốc, Thiếu bảo tri quân dân sự, Khai phủ nghi đồng tam ty, Nhập nội kiểm hiệu thái phó Bình chương quân quốc trọng sự Á quận hầu, Sái quận công, Nhập nội hữu tướng quốc, Thái uý.
Cương quốc công Nguyễn Xí đã phục vụ qua bốn đời vua đầu tiên của nhà Hậu Lê là Lê Thái Tổ (1418 – 1433), Lê Thái Tông (1433 – 1442), Lê Nhân Tông (1442 – 1459) và Lê Thánh Tông (1459 – 1497).
Năm 1465, Nguyễn Xí qua đời, thọ 69 tuổi, được truy tặng hàm Thái sư, thuỵ là Nghĩa Vũ. Sau khi ông mất, vua Lê Thánh Tông thương tiếc đã có bài chế rằng: “… Xét Nguyễn Xí đây: khí độ trầm hùng, tính người cường đại. Giúp Cao Hoàng khi mở nước, trăm trận gian nan; phò tiên khảo lúc thủ thành, hết lòng giúp rập. Ra vào hết chức phận tướng văn tướng võ; trước sau giữ trọn tiết làm tôi con. Giữ mình có đạo, hồn nhiên như ngọc chẳng khoe tươi; nghiêm mặt ở triều, lẫm liệt như thanh gươm mới tuốt. Các quan đều tưởng mộ phong thái; bốn biển ngưỡng mộ uy danh…” [5].
Hippolyte Le Breton trong An – Tĩnh cổ lục cũng đánh giá rất cao Nguyễn Xí: “là một trong những anh hùng xuất sắc nhất của cuộc chiến tranh giành độc lập (1418 – 1428) do Lê Lợi chỉ huy chống quân Minh” [6].
Về Ngô Văn Sở (? – 1795), ông thuộc dòng dõi họ Ngô Trảo Nha, nay thuộc xã Can Lộc, tham gia nghĩa quân Tây Sơn từ những ngày đầu mới khởi nghĩa. Trải qua nhiều chiến trận, ông đã lập được nhiều công lao, được Nguyễn Huệ tuyệt đối tin dùng. Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đã từng nói: "Sở và Lân [7] là nanh vuốt của ta”.
Tháng 5 năm 1788, Ngô Văn Sở được phong làm Đại tư mã kiêm Tổng trấn Bắc Hà. Cuối năm 1788, Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị đã rầm rộ kéo sang nước ta. Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân và bộ tướng lui quân về Tam Điệp để bảo toàn lực lượng. Trong chiến dịch đại phá quân Thanh vào mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789), Ngô Văn Sở được giao làm tướng tiên phong đánh vào hướng Hạ Hồi, Ngọc Hồi.
Với tài trí tuyệt vời của vua Quang Trung, cùng sự mưu trí, dũng cảm của các tướng Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Thuyết, Đô đốc Long, Đô đốc Bảo... và đặc biệt là Đại tư mã Ngô Văn Sở, 29 vạn quân Thanh đã bị đánh cho tan tác, Tôn Sĩ Nghị phải bỏ chạy tháo thân về nước trong tủi nhục.
Sau khi đại thắng quân Thanh, vua Quang Trung quay về Phú Xuân, giao Bắc Thành lại cho Ngô Văn Sở cai quản với lời dặn: “Việc binh ở Bắc Hà ta giao cho Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân. Việc giao tiếp với Trung Quốc thì ta giao cho Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích. Mọi việc đều cho phép các người tùy tiện xử trí. Ta hãy về Nam, nếu việc gì không quan hệ lắm thì bất tất phải qua lại bẩm báo cho thêm phiền phức” [8].
Sau khi vua Quang Trung mất, Ngô Văn Sở vẫn trấn giữ Bắc Hà, được thăng chức Đại đổng lý, tước Chấn Quận công, sau thăng Chấn (Ích) Quốc công. Dưới quyền cai quản của ông, tình hình các trấn ở miền Bắc ổn định, đi dần vào nền nếp.
Ông thi hành nhiều chính sách tích cực, coi trọng văn học, tổ chức khoa thi để tìm kiếm nhân tài, đặt chức Huấn khoa để xét hỏi kẻ gian trong châu huyện... nên có uy tín lớn đối với Nhân dân. Như vậy, việc được Quang Trung - Nguyễn Huệ chọn để phó thác trọng trách này chứng tỏ sự tin tưởng tuyệt đối của ông vua áo vải đối với Ngô Văn Sở, đồng thời cũng là sự khẳng định tài năng hơn người của vị Đại tư mã này.
3 danh nhân người Hà Tĩnh được phong Quốc công dưới thời quân chủ nói trên vừa là những cá nhân kiệt xuất về tài năng quân sự, chính trị và ngoại giao, đồng thời là những đại diện tiêu biểu cho truyền thống yêu nước, trung quân và cống hiến. Việc chỉ có 3 người được vinh phong tước vị cao quý này cũng khẳng định giá trị đặc biệt của tước Quốc công cũng như tầm vóc lịch sử của các danh nhân Hà Tĩnh. Nghiên cứu về họ không chỉ góp phần làm sáng tỏ vai trò của tầng lớp tinh hoa Hà Tĩnh trong tiến trình lịch sử dân tộc mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, bồi đắp niềm tự hào về truyền thống quê hương, con người Hà Tĩnh.
[1]. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011, tr.212.
[2]. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr.318.
[3]. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011, tr.225.
[4]. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Sđd, tr.227.
[5]. Lê Quý Đôn toàn tập, Đại Việt thông sử, Tập 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.181.
[6]. Hippolyte Le Breton, An - Tĩnh cổ lục, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2014, tr.87.
[7]. Lân: tức Phan Văn Lân, người huyện Can Lộc (cũ).
[8] Ngô Gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học, Hà Nội, 2006, tr.304.