Ngân hàng số Vikki (Vikki Bank) vừa trở thành ngân hàng thứ 30 điều chỉnh giảm lãi suất huy động sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước ngày 9/4, đánh dấu lần giảm đầu tiên kể từ ngày 12/12/2025.
Trong đợt điều chỉnh này, nhà băng giảm 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6-36 tháng. Theo biểu lãi suất tiền gửi trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ mới cập nhật, lãi suất kỳ hạn 6-11 tháng giảm còn 6%/năm; kỳ hạn 12 tháng còn 6,1%/năm; kỳ hạn 13 tháng còn 6,2%/năm - mức cao nhất hiện được niêm yết.
Các kỳ hạn dài hơn từ 15-36 tháng cũng giảm về 6,1%/năm. Trong khi đó, lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 1-5 tháng được giữ nguyên ở mức 4,7%/năm, tương đương mức áp dụng tại quầy.
Với kênh gửi tại quầy, Vikki Bank cũng đồng loạt giảm lãi suất tiết kiệm 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6-36 tháng. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 6 tháng còn 5,9%/năm; 7-11 tháng còn 5,7%/năm; 12 tháng còn 6%/năm; 13 tháng còn 6,1%/năm; và các kỳ hạn 18-36 tháng còn 5,8%/năm.
Vikki Bank từng là ngân hàng niêm yết lãi suất huy động cao nhất hệ thống. Thời điểm trước ngày 11/4, Vikki Bank niêm yết lãi suất huy động kỳ hạn từ 12 tháng lên đến 9,3%/năm, kỳ hạn từ 6-11 tháng là 9,2%/năm.
Đến nay, đã có 30 ngân hàng thương mại trong nước công bố giảm lãi suất huy động, gồm: VPBank, Techcombank, SeABank, BVBank, Sacombank, ABBank, KienlongBank, BaoViet Bank, LPBank, Nam A Bank, NCB, SHB, TPBank, Viet A Bank, Cake, Agribank, VietinBank, MB, Vietcombank, Eximbank, Bac A Bank, MSB, OCB, PGBank, Pvcombank, VietBank, BIDV, MBV, Saigonbank và Vikki Bank.
Trong đó, SeABank, Agribank là 2 đơn vị giảm lãi suất tiền gửi lần thứ 2 trong đợt giảm lãi suất này.
Trước đó, đầu tháng 4, có 9 ngân hàng đã tăng lãi suất huy động, gồm: Viet A Bank, Nam A Bank, BaoViet Bank, ACB, VietinBank, Techcombank, VIB, BVBank và Vietcombank.
Theo biểu lãi suất gửi tiền trực tuyến cập nhật ngày 20/4, mặt bằng lãi suất tại các ngân hàng tiếp tục duy trì sự phân hóa rõ rệt giữa các kỳ hạn và nhóm nhà băng.
Ở kỳ hạn ngắn 1-3 tháng, mặt bằng lãi suất huy động trực tuyến nhìn chung ổn định trong khoảng 4,5-4,75%/năm tại phần lớn ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, VietinBank hay Agribank. Một số ngân hàng quy mô nhỏ hoặc đang tái cơ cấu duy trì mức thấp hơn, như SCB chỉ từ 1,6-1,9%/năm, trong khi nhóm ngân hàng tư nhân dao động quanh 4-4,7%/năm.
Sang kỳ hạn 6-9 tháng, lãi suất có sự phân hóa rõ hơn, phổ biến trong khoảng 5,5-6,9%/năm. Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước giữ mức 5,8-6,6%/năm, trong khi nhiều ngân hàng tư nhân niêm yết cao hơn, như ACB lên tới 7,1-7,2%/năm hay MBV ở mức 7,2%/năm. Ngược lại, một số ngân hàng có mức lãi thấp hơn đáng kể, như Eximbank quanh 5,4%/năm hoặc PVcomBank ở mức 5,3%/năm.
Tại kỳ hạn 12 tháng, mặt bằng lãi suất dao động chủ yếu từ 5,3% đến 7,3%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì quanh 5,9–6,8%/năm, trong khi một số ngân hàng tư nhân đưa ra mức cao hơn đáng kể, như ACB đạt 7,3%/năm, LPBank và PGBank ở mức 7%/năm, hay VCBNeo niêm yết 7%/năm.
Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng giữ mức thấp hơn như SeABank (5,3%/năm) hoặc Eximbank (5,3%/năm).
Với kỳ hạn dài 18 tháng, lãi suất tiếp tục duy trì sự phân hóa, phổ biến trong khoảng 5,8-7,2%/năm. Nhóm ngân hàng có mức lãi suất cao gồm MBV (7,2%/năm), LPBank (7,1%/năm) và Saigonbank (7%/năm). Trong khi đó, nhiều ngân hàng niêm yết quanh 6-6,7%/năm, còn nhóm thấp hơn như SeABank chỉ ở mức 5,75%/năm hoặc SCB dưới 4%/năm.
Tại họp báo ngân hàng gần đây, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết đến hết tháng 3, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng, tăng hơn 3% so với cuối năm ngoái.
Năm nay, Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15%. Chỉ tiêu này có thể điều chỉnh theo diễn biến thực tế nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng và đảm bảo an toàn hệ thống.
"Nhu cầu tín dụng cho sản xuất và tiêu dùng có xu hướng tăng, trong khi huy động vốn có thể chịu cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác như bất động sản, chứng khoán, tạo thêm sức ép lên hệ thống ngân hàng", ông Phạm Thanh Hà nhận định.
Trong bối cảnh đó, Phó thống đốc cho biết Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp với chính sách tài khóa.
Cơ quan này theo dõi sát diễn biến lãi suất huy động và cho vay, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết. Chính sách tỷ giá cũng được điều hành linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, góp phần ổn định thị trường ngoại hối.