Thương hiệu đã có, dữ liệu vẫn còn khoảng trống
Hà Tĩnh hiện có hơn 650 cơ sở được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, thủy sản; gần 100 cơ sở chế biến áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như HACCP, GMP, ISO. Qua 7 năm thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), toàn tỉnh có 410 sản phẩm được đánh giá, công nhận đạt chuẩn.
Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, số lượng sản phẩm được công nhận không đồng nghĩa với toàn bộ quá trình sản xuất đã được số hóa, minh bạch hóa.
Tại xã Đồng Lộc, với khoảng 500 ha trồng cam, địa phương đang từng bước xây dựng thương hiệu, phát triển sản xuất theo hướng VietGAP và tiến tới hữu cơ. Thế nhưng, trong 7 sản phẩm OCOP của địa phương, mới có 3 sản phẩm tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử của tỉnh. Đáng chú ý, cam giòn Xuân Hòa – sản phẩm OCOP 4 sao đã có chỗ đứng trên thị trường – vẫn đang hoàn thiện thủ tục để cập nhật dữ liệu lên hệ thống.
Thực tế khó khăn không nằm ở việc thiếu sản phẩm hay thương hiệu. Vấn đề ở đây là dữ liệu chưa được quan tâm, số hóa chưa tương xứng với quá trình phát triển sản phẩm. Do thông tin về vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất và lưu thông chưa đầy đủ, dẫn tới khả năng chứng minh nguồn gốc, chất lượng cũng bị hạn chế.
Ông Nguyễn Xuân Hòa, thành viên HTX Trà Sơn, xã Đồng Lộc chia sẻ: “Việc triển khai truy xuất nguồn gốc điện tử góp phần công khai, minh bạch thông tin sản phẩm. Tuy nhiên, bước đầu thực hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn do rào cản trong ứng dụng công nghệ thông tin và việc cập nhật dữ liệu thường xuyên”. Theo ông Nguyễn Thanh Hải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Tĩnh, có ba nhóm nguyên nhân chính khiến việc truy xuất nguồn gốc nông sản chưa đạt kết quả như mong đợi, xuất phát từ các chủ thể sản phẩm, hạ tầng công nghệ và người tiêu dùng.
Nút thắt từ phương thức sản xuất đến quản lý dữ liệu
Khó khăn trong truy xuất nguồn gốc còn thể hiện rõ ở các cơ sở chế biến thực phẩm. Hợp tác xã Hoàng Gia Lan, xã Thạch Khê, có hai sản phẩm chả mực và nước mắm đạt chuẩn OCOP 3 sao năm 2020. Để đáp ứng yêu cầu truy xuất, mỗi lô sản phẩm cần được ghi chép, lưu trữ thông tin đầy đủ. Với những cơ sở quen phương thức sản xuất truyền thống, việc duy trì cập nhật dữ liệu điện tử đòi hỏi thay đổi thói quen quản lý.
Ông Nguyễn Văn Gia, Giám đốc Hợp tác xã Hoàng Gia Lan, cho biết: “Việc ghi chép thông tin sau mỗi lô sản xuất là yêu cầu cần thiết, nhưng để duy trì thường xuyên, đầy đủ vẫn cần thêm thời gian và sự hướng dẫn. Bởi, công việc sản xuất chuyển sang quản lý bằng dữ liệu đòi hỏi người làm phải kiên trì và có kỹ năng công nghệ”.
Không chỉ hạn chế về kỹ năng công nghệ, nhiều cơ sở còn gặp khó khăn trong quản lý thông tin nguyên liệu đầu vào. Công ty Cổ phần Nông nghiệp Hương Sơn có các sản phẩm nhung hươu và rượu nhung hươu Chiến Sơn đạt chuẩn OCOP 3 sao. Tuy nhiên, nguyên liệu nhung được thu mua từ nhiều hộ chăn nuôi, khiến việc tập hợp và cập nhật dữ liệu đầu vào gặp không ít trở ngại.
Theo ông Lê Tùng Dương, Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn và Quản lý chất lượng, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Tĩnh, thực tế triển khai cho thấy phần lớn chủ thể sản phẩm xuất thân từ nông dân, quy mô sản xuất, kinh doanh còn nhỏ lẻ nên trình độ công nghệ thông tin còn hạn chế, gây khó khăn cho việc cập nhật dữ liệu lên hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Đó là chưa nói tới phần lớn các cơ sở sản xuất đều thu mua nguyên liệu từ nhiều hộ sản xuất khác nhau. Công ty Cổ phần Nông nghiệp Hương Sơn có các sản phẩm nhung hươu và rượu nhung hươu Chiến Sơn đạt chuẩn OCOP 3 sao, nhưng việc thu mua nhung từ các hộ chăn nuôi khiến khâu cập nhật dữ liệu đầu vào khó có thể thực hiện.
Chị Phạm Thị Lý, Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp Hương Sơn cho biết: "Muốn hoàn thiện thông tin truy xuất, doanh nghiệp cần có sự phối hợp của các hộ cung cấp nguyên liệu. Nếu thông tin ở đầu chuỗi chưa đầy đủ, việc hoàn thiện dữ liệu ở khâu chế biến và tiêu thụ cũng khó bảo đảm tính chính xác".
Thực tế này cho thấy, truy xuất nguồn gốc không đơn thuần là tạo mã QR cho sản phẩm. Dữ liệu phải được hình thành từ khâu nguyên liệu, theo sát quá trình sản xuất và tiếp tục cập nhật trong lưu thông. Nếu các mắt xích đầu tiên thiếu thông tin, việc minh bạch hóa ở khâu cuối cũng khó bảo đảm độ tin cậy.
Từ nền tảng công nghệ đến sự minh bạch
Để tháo gỡ những khó khăn trên, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Kế hoạch số 165/KH-UBND ngày 1/4/2026 về truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2035. Hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa của tỉnh tại địa chỉ checkvn.hatinh.gov.vn cũng được vận hành, kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, tỉnh đang hỗ trợ, hướng dẫn 162 cơ sở với 288 sản phẩm thực hiện truy xuất nguồn gốc trên hệ thống; trước mắt, phấn đấu hoàn thành thêm 20 sản phẩm trong quý IV/2026.
Ông Nguyễn Thanh Hải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Tĩnh, cho biết thời gian tới, ngành sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng lộ trình số hóa dữ liệu theo từng năm, ưu tiên các sản phẩm OCOP và sản phẩm đặc sắc địa phương; đồng thời hướng dẫn các chủ thể chuẩn hóa thông tin, cập nhật đầy đủ dữ liệu lên hệ thống.
Cùng với hoàn thiện hạ tầng công nghệ, cần chú trọng hướng dẫn các cơ sở thay đổi phương thức ghi chép, quản lý hồ sơ và nâng cao trách nhiệm cập nhật thông tin. Chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn cũng cần tăng cường kiểm tra, giám sát để dữ liệu phản ánh đúng quá trình sản xuất, lưu thông sản phẩm.
Minh bạch hóa nông sản không nằm ở số lượng mã QR được tạo ra mà ở chất lượng thông tin phía sau mỗi mã truy xuất. Khi dữ liệu được quản lý xuyên suốt, cập nhật thường xuyên và có thể kiểm chứng, thương hiệu nông sản Hà Tĩnh mới có thêm cơ sở để khẳng định chất lượng, củng cố niềm tin của người tiêu dùng và phát triển thị trường bền vững.