Tránh “thiệt thòi” cho ngành thép trong nước

Bộ Tài chính đã ngay lập tức có “hành động” để “bảo vệ” thị trường trong nước bằng việc đề xuất tăng thuế nhập khẩu ưu đãi thông thường (MFN) đối với thép cuộn cán nóng (HRC) nhóm 72.08 từ 0% lên 5%...

Tránh “thiệt thòi” cho ngành thép trong nước

Nếu tăng thuế MFN thì các doanh nghiệp sản xuất cán nguội, tôn mạ và ống thép còn phải đối mặt thêm với những khó khăn nữa.

Lo ngại trước nguy cơ thép giá rẻ của Trung Quốc có thể tràn vào Việt Nam do tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, Bộ Tài chính đã ngay lập tức có “hành động” để “bảo vệ” thị trường trong nước bằng việc đề xuất tăng thuế nhập khẩu ưu đãi thông thường (MFN) đối với thép cuộn cán nóng (HRC) nhóm 72.08 từ 0% lên 5%.

Tuy nhiên, theo phản ánh từ Hiệp hội thép Việt Nam (VSA) và một số doanh nghiệp thép trong nước, biện pháp này không những không hạn chế được, mà còn làm gia tăng thêm lượng thép nhập từ Trung Quốc. Đồng thời làm giảm tính cạnh tranh lành mạnh của thị trường thép Việt Nam, tạo cơ hội cho độc quyền thị trường.

Cơ sở để tăng thuế

Nêu lý do tăng thuế nhập khẩu thép, tại công văn 8745/BTC-CST xin ý kiến dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 125/2017/NĐ-CP về biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan, Bộ Tài chính cho rằng, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang làm dấy lên lo ngại về việc thép giá rẻ Trung Quốc có thể tràn vào Việt Nam, kéo theo giá thép trên thị trường giảm mạnh. Điều này khiến nhà máy sản xuất thép lớn nhất Việt Nam đang cân nhắc tạm dừng kế hoạch triển khai lò cao số 3.

Bên cạnh đó, mỗi năm Việt Nam nhập khẩu hơn 8 triệu tấn HRC, trong đó 40% là nhập từ Trung Quốc. Chính vì vậy, nếu không có thuế nhập khẩu đánh vào mặt hàng, thép cán cuộn giá rẻ sẽ từ Trung Quốc tiếp tục tràn vào Việt Nam sẽ gây bất ổn thị trường thép Việt Nam. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đề xuất điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu ưu đãi MFN đối với các mặt hàng thép cuộn cán nóng thuộc nhóm 72.08 từ 0% lên 5%.

Liên quan đến năng lực sản xuất trong nước, Bộ Tài chính cho biết, theo thông tư 01/2018/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay Việt Nam đã sản xuất được một số mặt hàng HRC thuộc nhóm 72.08, gồm các mặt hàng thép cán phẳng, dạng cuộn, cán nóng, đã ngâm, tẩy, gỉ thuộc các mã hàng 72.08.26.00, 72.08.27.90; thép cán phẳng, dạng cuộn, cán nóng/loại khác thuộc các mã 72.08.36.00, 72.08.37.00, 72.08.38.00, 72.08.39.00 và thép cán nóng dạng không cuộn thuộc các mã 72.08.53.00, 72.08.39.00.

Theo báo cáo của VSA nêu tại công văn 47A/2019/HHTVN, năng lực sản xuất HRC của các DN trong nước tính đến tháng 12/2018 đạt 3,4 triệu tấn/năm (đạt 86% công suất thiết kế, công suất thiết kế là 4 triệu tấn/năm). Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ HRC trong nước khoảng gần 11 triệu tấn/năm. Như vậy, năng lực sản xuất trong nước mới đáp ứng khoảng gần 31% nhu cầu.

Dự kiến cuối năm 2019, con số này sẽ tăng lên 50 - 60% khi nhà máy của công ty Hòa Phát tại Dung Quất, Quảng Ngãi và của công ty Formosa đi vào hoạt động. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn phải nhập khẩu thép cán nóng để sản xuất thép cán nguội phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Về tác động tới ngân sách Nhà nước, theo tính toán của Bộ Tài chính, việc tăng MFN từ 0% lên 5% sẽ làm tăng thu ngân sách Nhà nước với số thuế nhập khẩu tăng là 137,15 triệu USD (tương đương 3.152 tỷ đồng). Tuy nhiên, khi tăng thuế lên 5%, các doanh nghiệp sẽ tìm nguồn nhập khẩu từ các nước có thuế suất ưu đãi đặc biệt 0% như Trung Quốc, ASEAN và Hàn Quốc. Vì vậy, số thu ngân sách nhà nước thực tế sẽ thấp hơn con số tính toán nêu trên.

Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng cho rằng, việc tăng thuế sẽ tạo ra sự dịch chuyển thương mại sang các nước có ký hiệp định thương mại tự do với Việt Nam để hưởng thuế suất 0%. Tuy nhiên, để đủ điều kiện áp dụng thuế suất 0%, các doanh nghiệp sẽ phải tốn thêm chi phí xin giấy chứng nhận xuất xứ và tìm đối tác nhập khẩu mới. Vì vậy, việc điều chỉnh tăng thuế suất lên 5% sẽ có tác động đến chi phí nhập khẩu của doanh nghiệp …

"Trăm dâu lại đổ đầu doanh nghiệp"

Phản hồi về đề xuất tăng thuế, trong công văn 46/2019/HHTVN gửi Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, VSA nêu rõ, việc tăng MFN với thép HRC nhóm 72.08 không những không hạn chế được mà còn tạo cơ hội gia tăng lượng thép Trung Quốc tràn vào Việt Nam.

Phân tích cụ thể hơn, VSA cho rằng, Trung Quốc và Việt Nam đều tham gia Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) nên HRC nhóm 72.08 từ Trung Quốc nhập vào Việt Nam được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt 0% theo hiệp định này. Do đó, nếu tăng MFN từ 0% lên 5% thì HRC nhóm 72.08 của Trung Quốc sẽ vẫn được nhập khẩu vào Việt Nam với thuế suất 0% theo ACFTA.

Số liệu thống kê 5 tháng đầu năm 2019 cho thấy, Việt Nam nhập khẩu HRC từ Trung Quốc chiếm 35%, tiếp theo là Ấn Độ và Đài Loan chiếm 32% tổng lượng nhập khẩu, còn lại là từ các nước khác. Nếu theo đề xuất tăng MFN của Bộ Tài chính, lượng HRC nhập khẩu từ Ấn Độ, Đài Loan, Brazil…sẽ phải chịu mức MFN là 5% thay vì 0% như hiện nay (do Việt Nam chưa có FTA với những nước này hoặc đã ký nhưng không cam kết thuế nhập khẩu ưu đãi), dẫn đến không cạnh tranh được với thép Trung Quốc.

Khi đó lượng HRC nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ chiếm tỷ trọng ít nhất 70-80% tổng lượng HRC nhập khẩu vào Việt Nam. Như vậy, việc tăng MFN đối với HRC nhóm 72.08 không những không đạt được mục tiêu ngăn chặn thép Trung Quốc, mà vô hình chung lại ngăn chặn các nguồn nhập khẩu hợp lý từ các thị trường khác như Ấn Độ, Đài Loan, Brazil.

Hơn nữa, việc tăng MFN sẽ gây thêm khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất cán nguội, tôn mạ và ống thép trong bối cảnh các ngành sản xuất này đang gặp khó khăn. Trong 7 tháng năm 2019, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất cán nguội, tôn mạ và ống thép giảm khoảng 5% so với cùng kỳ năm 2018. Hầu hết doanh nghiệp các ngành này đã phải cắt giảm sản xuất, dừng dây chuyền, giảm lao động, chỉ đang hoạt động khoảng 60% công suất thiết kế, nhiều doanh nghiệp đến nay vẫn đang trong tình trạng thua lỗ.

Đó là một phần hệ quả mà các doanh nghiệp sản xuất cán nguội, tôn mạ và ống thép đang phải gánh chịu từ hàng rào phòng vệ thương mại của nhiều nước trên thế giới đến những chiêu trò cạnh tranh không lành mạnh của các sản phẩm tương tự nhập khẩu vào Việt Nam (dưới hình thức tạm nhập tái xuất…).

Do đó, VSA cho rằng, nếu tăng thuế MFN thì các doanh nghiệp sản xuất cán nguội, tôn mạ và ống thép còn phải đối mặt thêm với những khó khăn nữa. Cụ thể, làm hạn chế nguồn cung nhập khẩu trong khi sản lượng sản xuất trong nước chưa đáp ứng nhu cầu.

Hiện nay nhu cầu vào khoảng 10 - 11 triệu tấn/năm, nhưng công suất sản xuất thép cán nóng nội địa chỉ khoảng 4 triệu tấn/năm, mới đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu. Bên cạnh đó, việc tăng thuế sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất thép trong nước.

Một điểm đáng chú ý được nêu trong văn bản của VSA, hiện nay doanh nghiệp sản xuất HRC trong nước đang có thị trường tiêu thụ thuận lợi nên chưa cần thiết phải tăng MFN để hỗ trợ.

Hơn nữa, Việt Nam cũng chỉ mới sản xuất được một vài mặt hàng HRC trong nhóm 72.08 và năng lực sản xuất cũng chưa đáp ứng được nhu cầu, kể cả khi dự án thép Dung Quất cho ra sản phẩm thì ngành sản xuất Việt Nam cũng chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu nội địa.

Chính vì thế, việc tăng MFN làm giảm khả năng cạnh tranh của đa số doanh nghiệp sản xuất tôn mạ. Thậm chí, điều này có thể làm thị trường HRC nội địa xáo trộn và tác động tiêu cực đến định hướng phát triển của ngành thép Việt Nam…

Từ những phân tích trên, VSA cho rằng, trong giai đoạn hiện nay không điều chỉnh tăng MFN từ 0% lên 5% đối với HRC nhóm 72.08. Đồng thời, chưa áp dụng bất kỳ biện pháp phòng vệ thương mại nào đối với mặt hàng HRC nhóm 72.08.

“Bộ Tài chính cần xem xét, nghiên cứu và giữ nguyên mức MFN đối với HRC như Nghị định 125/2017/NĐ-CP để đảm bảo sự phát triển, môi trường cạnh tranh lành mạnh của ngành thép Việt Nam”, VSA kiến nghị.

Theo VnEconomy

Đọc thêm

Formosa Hà Tĩnh nộp ngân sách hơn 127 triệu USD

Formosa Hà Tĩnh nộp ngân sách hơn 127 triệu USD

Nhờ duy trì sản xuất ổn định, Formosa Hà Tĩnh tiếp tục khẳng định vai trò là đầu tàu công nghiệp của địa phương khi đạt doanh thu khoảng 1,7 tỷ USD, nộp ngân sách hơn 127 triệu USD trong những tháng đầu năm 2026.
"Làn sóng" đầu tư mới tạo xung lực phát triển cho Hà Tĩnh

"Làn sóng" đầu tư mới tạo xung lực phát triển cho Hà Tĩnh

Từ đầu năm đến nay, Hà Tĩnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư 29 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 155.000 tỷ đồng cùng 4 dự án FDI tổng vốn đầu tư hơn 412 triệu USD, tạo thêm động lực tăng trưởng và mở ra dư địa phát triển mới cho nền kinh tế.
Ngắm diện mạo quốc lộ 8C sau gần 3 năm nâng cấp, mở rộng

Ngắm diện mạo quốc lộ 8C sau gần 3 năm nâng cấp, mở rộng

Sau gần 3 năm thi công, dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 8C đoạn từ quốc lộ 8 đến đường Hồ Chí Minh đã cơ bản hoàn thành, mang đến diện mạo mới cho tuyến giao thông quan trọng, góp phần nâng cao năng lực kết nối và phục vụ nhu cầu đi lại, phát triển kinh tế của địa phương.
Điện thương phẩm tăng hơn 20%: Động lực từ sức bật công nghiệp

Điện thương phẩm tăng hơn 20%: Động lực từ sức bật công nghiệp

Sản lượng điện thương phẩm của Hà Tĩnh tăng hơn 20% trong 6 tháng đầu năm không chỉ do nhu cầu điện sinh hoạt tăng cao mà còn được thúc đẩy bởi sự mở rộng của các dự án công nghiệp. Đây là tín hiệu phản ánh rõ nhịp tăng trưởng của kinh tế địa phương.
Bài 4: Hà Tĩnh quyết liệt, đồng bộ vì mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững

Bài 4: Hà Tĩnh quyết liệt, đồng bộ vì mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững

GRDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 12,79%, đứng đầu cả nước, là khởi đầu thuận lợi cho chặng đường phát triển mới của Hà Tĩnh. Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, yêu cầu đặt ra lúc này không chỉ là phát huy hiệu quả các động lực hiện có mà còn phải tiếp tục đổi mới tư duy điều hành và nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện. Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Hà Tĩnh đã trao đổi với đồng chí Trần Báu Hà - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh về những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của tỉnh trong thời gian tới.
"Rộng cửa" phát triển điện mặt trời mái nhà ở Hà Tĩnh

"Rộng cửa" phát triển điện mặt trời mái nhà ở Hà Tĩnh

Theo quy định mới, chủ đầu tư được bán tối đa 50% sản lượng điện dư từ hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu. Quy định này giúp người dân, doanh nghiệp Hà Tĩnh có thêm động lực đầu tư nguồn điện sạch.
Bài 3: Khu kinh tế Vũng Áng - mở không gian, định vị cực tăng trưởng mới

Bài 3: Khu kinh tế Vũng Áng - mở không gian, định vị cực tăng trưởng mới

Khu kinh tế Vũng Áng đang bước vào giai đoạn tăng tốc mạnh mẽ nhất từ trước đến nay với nhiều công trình hạ tầng trọng điểm và các dự án quy mô lớn của nhà đầu tư. Phía sau chuyển động ấy là sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, tháo gỡ “điểm nghẽn”, mở dư địa phát triển mới, hiện thực hóa mục tiêu đưa Khu kinh tế Vũng Áng từ hạt nhân công nghiệp của Hà Tĩnh trở thành cực tăng trưởng mới của vùng Bắc Trung Bộ.
Bài 2: Hà Tĩnh khơi thông nguồn lực, kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp

Bài 2: Hà Tĩnh khơi thông nguồn lực, kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp

Mục tiêu đến năm 2030, công nghiệp - xây dựng chiếm 51% cơ cấu GRDP đặt Hà Tĩnh trước yêu cầu phải tái cấu trúc mạnh mẽ không gian phát triển, hạ tầng, thu hút đầu tư và năng lực nội sinh của nền công nghiệp. Chỉ khi các “điểm nghẽn” được tháo gỡ bằng giải pháp đồng bộ, tỉnh mới có thể hình thành hệ sinh thái công nghiệp hiện đại, xanh và đủ sức cạnh tranh.
Bài 1: Hà Tĩnh hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược về kinh tế cảng biển

Bài 1: Hà Tĩnh hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược về kinh tế cảng biển

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX xác định lấy công nghiệp làm trụ cột, Khu kinh tế Vũng Áng là động lực tăng trưởng gắn với phát triển kinh tế biển, cảng biển, năng lượng, công nghiệp chế biến, chế tạo và logistics. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, nhiều quyết sách, quy hoạch và chương trình hành động được triển khai đồng bộ, từng bước hoàn thiện “đường ray” phát triển, tạo đà để “con tàu” công nghiệp Hà Tĩnh tăng tốc.
Xin chào,
Tôi là Chatbot của
Báo Hà Tĩnh
Hãy hỏi tôi bất kỳ điều gì bạn cần biết về
Báo Hà Tĩnh nhé. Tôi sẵn sàng hỗ trợ!