Trở lại với bối cảnh đất nước những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn 1930-1945, Việt Nam chìm trong màn đêm nô lệ: “Thuở nô lệ, dân ta nước mất/ Cảnh cơ hàn, trời đất tối tăm/ Một đời đau suốt trăm năm/ Chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao” (Tố Hữu).
Chế độ thực dân phong kiến vốn đã đè nặng lên đời sống Nhân dân, tháng 9/1940, phát xít Nhật lại tràn vào, ngang nhiên đòi thống trị đất nước, gây bao tang tóc đau thương cho dân tộc Việt Nam. Dân ta phải chịu “một cổ hai tròng”. Trận đói năm 1945 khiến hơn 2 triệu người Việt Nam phải chết.
Trong bản Tuyên ngôn Độc lập đọc vào ngày 2/9/1945, Bác Hồ đã nhắc lại bối cảnh và những cột mốc đau thương này: “Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa…”; “Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu 2 tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói”.
Quy luật của cuộc sống là có áp bức thì có đấu tranh, “tức nước thì vỡ bờ”. Ngọn lửa được thắp lên từ các phong trào yêu nước bị dập tắt, một lần nữa lại cháy bùng lên dưới sự lãnh đạo của Đảng. Không có con đường nào khác ngoài con đường yêu nước và cách mạng, đứng lên để tự cứu mình, cứu vận mệnh dân tộc.
Cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh
Các cuộc đấu tranh liên tiếp nổ ra làm rung chuyển chế độ thực dân phong kiến, điển hình là cao trào 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh, cao trào vận động dân chủ 1936-1939 và cao trào giải phóng dân tộc 1939-1945, đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám 1945. Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Tháng 5/1941, trước những thay đổi mạnh mẽ của tình hình trong nước và những biến động to lớn trên thế giới, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa I) ở Pác Bó, Cao Bằng, quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng - khẳng định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam.
Hội nghị đã quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) nhằm tập hợp và đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân tham gia Mặt trận. Cùng với việc công bố Tuyên ngôn, Điều lệ, Mặt trận Việt Minh cũng xác định cụ thể Chương trình cứu nước. Chương trình này cốt để thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào mong ước: Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập và làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do. Từ đây, hai tiếng Việt Minh trở thành sức hút to lớn với những người dân đau khổ đang khao khát được đổi đời bằng một cuộc cách mạng.
Một niềm hạnh phúc dâng trào khó tả trong hàng triệu trái tim, một ý chí quyết tâm lan truyền mạnh mẽ trong hàng triệu khối óc trong những ngày tháng ấy. Ngay giữa lòng TP Hà Nội, Mặt trận Việt Minh đã tuyên truyền, giác ngộ, phát động toàn dân phá kho thóc của Nhật cứu đói cho Nhân dân, vô hiệu hóa bộ máy chính quyền phong kiến - bù nhìn thân Nhật. Mặt trận Việt Minh càng được mở rộng. Không khí Tổng khởi nghĩa giành chính quyền dấy lên trong cả nước. Ngày 14/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện. Cơ hội cứu nước ngàn năm có một đã đến. Tình thế vô cùng khẩn trương. Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân được tổ chức tại Tân Trào (Tuyên Quang), 60 đại biểu cả nước đã biểu thị sự nhất trí hoàn toàn với chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh và cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Ngày 19/8/1945, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 2/9/1945, tại cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chấm dứt chế độ thực dân phong kiến gần 100 năm đè nặng lên đất nước. “Xanh biết mấy là trời xanh Tổ quốc/ Khi tự do về chói ở trên đầu” (Chế Lan Viên).
Hào khí của những ngày tháng Tám năm 1945 đến nay vẫn còn phả ra từ những trang sách, trong ký ức của những người đã đi qua những năm tháng không thể nào quên và được truyền lại cho con cháu muôn đời sau. Đó là sự tiếp nối hào khí “Sát Thát” (chống giặc Nguyên Mông) đời Trần, hào khí chống giặc Minh thời Lê Lợi, Nguyễn Trãi: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới”. Hào khí ấy được khơi dậy trong thời đại Hồ Chí Minh: “Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” và “Thần tốc! Thần tốc hơn nữa! Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam”.
Mùa thu tháng Tám từ đó mãi là dấu mốc lịch sử không thể nào phai. 81 năm đi qua, hào khí những ngày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2/9 mãi là động lực, hành trang để dân tộc ta viết tiếp trang sử anh hùng trong sự nghiệp giữ nước, xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, thịnh vượng và phát triển.
Nằm giữa “khúc ruột miền Trung” thân thương, Hà Tĩnh là một trong 4 địa phương của cả nước giành chính quyền sớm nhất trong Cách mạng Tháng Tám. Đi qua 2 cuộc trường chinh của dân tộc, Hà Tĩnh vẫn luôn “đi đầu bước trước”, ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng, rạng danh truyền thống yêu nước chống ngoại xâm. Trong công cuộc đổi mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp Nhân dân Hà Tĩnh đã tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua, đem trí tuệ, tâm huyết, sáng tạo xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh. Chính trị ổn định, kinh tế ngày càng tăng trưởng, văn hóa - xã hội ngày càng chuyển biến tích cực.
Trước những biến động sâu sắc của thế giới và sự chống phá của các thế lực thù địch, Nhân dân Hà Tĩnh vẫn một lòng giữ vững truyền thống yêu nước, cách mạng. Những giá trị và bài học to lớn của Cách mạng Tháng Tám 1945 và Quốc khánh 2/9 luôn là hành trang quý giá đối với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Hà Tĩnh trong chặng đường mới. Hào khí tháng Tám mãi còn vang vọng trong tâm thức, thắp lên ngọn lửa yêu nước, soi sáng tâm hồn, trí tuệ của các thế hệ người Hà Tĩnh hôm nay và mai sau.