Là vùng đất bồi tụ bên dòng sông La, Khổng Yên đã đi qua hơn 500 năm với bao đổi thay của thời gian. Thế nhưng, trong nhịp sống hôm nay, nơi đây vẫn lưu giữ dáng vóc của một ngôi làng Việt với những câu chuyện về nguồn cội, những phong tục và địa danh đã trở thành ký ức chung của bao thế hệ. Chính những lớp trầm tích ấy đã bồi đắp nên linh khí của một vùng quê giàu truyền thống.
Giữa mạch nguồn ấy, đền Khổng Yên là một dấu tích tiêu biểu của lịch sử làng. Tọa lạc ngay đầu làng, ngôi đền thờ Đệ nhị giáp Tiến sĩ Trần Dực, đồng thời là Thành hoàng của làng. Được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh năm 2012, nơi đây không chỉ là điểm tựa trong đời sống tín ngưỡng của người dân mà còn lưu giữ những câu chuyện về các bậc tiền nhân có công với quê hương.
Theo tư liệu lịch sử, Trần Dực (1465–1512), người quê Ngãi Lăng, thị trấn Đức Thọ (cũ), là người học trò nghèo đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ trong kỳ thi Hội năm Nhâm Tuất (1502), đời vua Lê Hiến Tông. Ông từng giữ chức Hộ bộ Tả thị lang kiêm Đông các Hiệu thư và được khắc tên tại bia Tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Sau khi trở về quê, ông góp công xây dựng nhiều công trình phục vụ dân sinh, trong đó có cầu Thị Lang chống úng ngập. Vì thế, đền Khổng Yên không chỉ là nơi thờ tự mà còn là nơi cộng đồng gìn giữ ký ức về một bậc hiền tài của quê hương.
Chiều dài lịch sử của Khổng Yên không chỉ được lưu dấu qua những công trình tín ngưỡng. Mạch nguồn ấy còn được viết nên bằng truyền thống yêu nước, tinh thần hiếu học và những đóng góp của các thế hệ Nhân dân trong hành trình dựng xây, bảo vệ quê hương.
Hơn 90 tuổi, chứng kiến bao đổi thay của làng, nhưng trong ký ức của ông Nguyễn Huyên, những câu chuyện về Khổng Yên vẫn còn nguyên vẹn. Đặc biệt là ký ức về Trường Nghĩa Yên Minh Tân - một cái nôi giáo dục từng đào tạo nhiều cán bộ, đảng viên ưu tú, góp phần nuôi dưỡng tinh thần hiếu học và ý thức trách nhiệm với quê hương qua nhiều thế hệ. Ông Huyên chia sẻ: “Người dân chúng tôi thường gọi đây là trường làng, trường của Đảng, bởi ngôi trường do Chi bộ Nghĩa Yên lãnh đạo, tổ chức và thành lập. Không chỉ góp phần thúc đẩy phong trào học chữ Quốc ngữ sau khi Đảng ra đời, từ khi có ngôi trường này, phong trào học tập của con em trong vùng cũng phát triển hơn”.
Trước những năm 70 của thế kỷ trước, ngoài nghề nông, nơi đây còn nổi tiếng với nghề làm giấy viết từ cây nứa. Khi công nghệ sản xuất giấy phát triển, nghề giấy thủ công dần không còn đáp ứng nhu cầu sử dụng, người dân chuyển sang làm giấy hàng mã, đan bồ, và rồi nghề làm giấy viết cũng lùi dần vào dĩ vãng.
Nếu nghề làm giấy đã trở thành ký ức, thì ở Khổng Yên, nghề làm bánh gai vẫn bền bỉ qua năm tháng, lưu giữ một hương vị đã trở thành dấu ấn của làng. Từ vùng “gạo trắng, nước trong” bên dòng La, người dân nơi đây đã làm nên một thức quà mang dấu ấn riêng của quê hương. Lá gai, gạo nếp, mật mía, đậu xanh, qua đôi bàn tay cần mẫn của người dân, đã làm nên chiếc bánh mộc mạc được trao truyền qua bao thế hệ. Vì thế, trên những bãi bồi ven sông của Khổng Yên hôm nay vẫn hiện diện những khu vườn xanh mướt màu lá gai - nơi những người làm bánh chăm cây, giữ nghề và gìn giữ hương vị đã gắn bó với quê hương qua bao năm tháng.
Từ một làng nghề sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu bằng phương thức thủ công, nghề làm bánh gai ở Khổng Yên đã từng bước thích ứng với nhịp sống mới. Tình yêu nghề cùng sự trân trọng những giá trị cha ông để lại đã tạo động lực để các thế hệ nối tiếp nhau giữ nghề và phát triển nghề.
Không còn cảnh bếp lửa đỏ rực từ sáng sớm đến khuya, làng nghề hôm nay đã mở rộng quy mô với máy móc hiện đại. Hợp tác xã được hình thành, thương hiệu từng bước được gây dựng, để mỗi ngày, hàng nghìn chiếc bánh mang hương vị quê nhà đến với nhiều vùng miền.
Bà Nguyễn Thị Nho - Giám đốc HTX Sản xuất bánh gai Đức Yên chia sẻ: "Hiện nay, sản phẩm bánh gai Đức Yên ngày càng được nhiều người biết đến. Chúng tôi luôn cố gắng giữ hương vị truyền thống của quê hương, vừa phát triển nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân và để trao truyền cho các thế hệ sau".
Nét cổ của làng Khổng Yên không chỉ lưu giữ ký ức trong những câu chuyện của người xưa hay trong những nghề đã gắn bó với bao thế hệ, dấu ấn thời gian còn in đậm trên những không gian văn hóa của làng, nơi mỗi công trình đều mang theo một lát cắt của lịch sử. Giữa làng quê hôm nay, giếng Cửa Trùa được xây dựng từ năm 1917, được tôn tạo lại chính bằng nguồn lực đóng góp của con em địa phương vẫn lặng lẽ soi bóng, gợi nhắc về một nếp sinh hoạt cộng đồng từng gắn bó với đời sống của bao lớp người.
Những dấu tích ấy, khi được phục hồi và gìn giữ, không chỉ níu giữ dáng làng xưa mà còn nối mạch ký ức để lịch sử và văn hóa Khổng Yên tiếp tục chảy trong đời sống hôm nay. Bà Nghiêm Thị Hồng Nhung - Bí thư Chi bộ thôn Yên Long (xã Đức Thọ) cho biết: “Thôn Yên Long hiện có 3 di tích lịch sử, văn hóa được xếp hạng cấp tỉnh và một làng nghề truyền thống. Người dân trong thôn luôn có ý thức trân trọng, gìn giữ những giá trị mà cha ông để lại. Cùng với sự quan tâm của địa phương, chúng tôi cũng huy động nguồn lực đóng góp từ con em quê hương để tu bổ, tôn tạo thêm một số công trình, trong đó có giếng làng, vừa góp phần tạo cảnh quan, diện mạo cho quê hương, vừa để những giá trị lịch sử, văn hóa ấy trở thành nơi giáo dục truyền thống, bồi đắp ý thức cho thế hệ trẻ hôm nay.”
Hơn 500 năm đi qua, Khổng Yên hôm nay đã đổi thay nhiều, nhưng bên dòng La vẫn giữ được dáng làng thân thuộc với những mái nhà bình yên, những vườn lá gai xanh mướt và những di tích được gìn giữ qua năm tháng. Vẫn còn đó, hình ảnh một cây đa, giếng nước nơi đầu làng, trong những khu vườn bình dị, những chiếc cổng duối cổ thụ vẫn hiện diện, ôm ấp cuộc sống mộc mạc, dân dã của người quê. Ẩn sâu trong nếp làng là niềm tự hào về những lớp học thấm màu cách mạng, những câu chuyện về các bậc tiền nhân dựng làng, giữ đất và những người con đã góp sức xây dựng quê hương. Tất cả đã trở thành một phần ký ức, lịch sử, góp phần bồi đắp nên cốt cách và bản sắc của vùng đất này.
Tiếp nối mạch nguồn truyền thống ấy, người dân nơi đây đang chung sức gìn giữ những giá trị của cha ông bằng việc tôn tạo di tích, bảo tồn không gian văn hóa làng và xây dựng khu dân cư văn hóa gắn với đời sống mới. Để từ đó, hồn cốt của một ngôi làng cổ hơn nửa thiên niên kỷ tiếp tục được gìn giữ, lan tỏa qua các thế hệ mai sau.