Quê ta là đất Tam Đồng
Mùa về mía ngọt đường thơm cả làng
Nón Hạ buộc quai thao vàng
Em về Kẻ Trổ đổ đàng với anh
Trong câu ca xưa, Kẻ Trổ không chỉ là một địa danh mà còn là tên của một kẻ chợ từng nổi tiếng bên dòng La Giang. Từ tên đất, tên làng cổ ở vùng Đức Nhân xưa, nay thuộc xã Đức Quang, cái tên chợ Trổ theo năm tháng đi vào lời ăn tiếng nói của người dân, trở thành dấu tích còn lại của một miền quê từng sầm uất.
Từ cuối thời Lý, đầu thời Trần, cư dân đã về đây quần tụ, khai khẩn ruộng đồng, tạo nên vùng quê trù mật. Gắn với nghề trồng mía, nấu mật, làm kẹo cu đơ, chợ Trổ từng là điểm giao thương nhộn nhịp của vùng Đức Thọ. Những gánh bún, hến, miến, vải lụa... theo các phiên chợ tìm về rồi tỏa đi khắp nơi. Thuở ban đầu, chợ được dựng từ bốn ngôi đình gỗ. Qua năm tháng, chợ nhiều lần di dời, đổi thay theo sự phát triển của làng quê.
Địa giới có lúc sáp nhập, chia tách, nhưng cái tên chợ Trổ vẫn được người dân gọi bằng sự thân thuộc. Mật mía, bún hến… những thức quà mộc mạc ven bờ La Giang vẫn theo người dân ra chợ, mang theo cả mùi hương của đất, vị ngọt của phù sa và nếp sinh hoạt dân dã quê nhà đã nối dài qua bao thế hệ.
Bà Nguyễn Thị Xuân - tiểu thương đã có hơn 50 năm buôn bán tại chợ Trổ cho biết: “Chợ Trổ có từ hàng trăm năm nay rồi. Trước đây chợ nằm ở một địa điểm khác, sau này mới chuyển về đây. Trước kia, chợ nổi tiếng nhất là mật mía của vùng, rồi các mặt hàng từ vùng Thượng của Đức Thọ cũng theo về đây buôn bán như bún, miến, hến… Người dân các vùng đến chợ vừa mua bán, vừa giao lưu nên chợ lúc nào cũng nhộn nhịp”.
Cũng như Kẻ Trổ, chợ Gôi mang tên một vùng đất cổ của Hương Sơn xưa. Kẻ Gôi là tên gọi có từ thời Việt cổ, về sau là làng Gôi Mỹ, hay còn gọi là Gôi Vị, nay thuộc xã Sơn Tiến, tỉnh Hà Tĩnh. Dẫu địa danh Kẻ Gôi đã lùi vào lịch sử, tên chợ vẫn còn và được người dân gìn giữ trong lời ăn tiếng nói, trong nếp sinh hoạt của làng quê.
Đến nay, chợ Gôi vẫn giữ nếp họp chợ vào những ngày lẻ theo lịch âm, như cách người dân vùng này đã hẹn nhau qua bao năm tháng. Đặc biệt, cứ đến ngày 19 tháng Chạp, phiên chợ trâu truyền thống lại họp. Dẫu cảnh mua bán trâu không còn tấp nập như trước, phiên chợ vẫn là cuộc hẹn cuối năm của người dân trong vùng. Người đến chợ không chỉ để mua bán, mà còn để gặp nhau, hỏi chuyện mùa màng, sắm sửa cho tết đang cận kề. Theo những buổi chợ ấy, tấm cu đơ, cái bánh đa, bánh đúc, mớ rau, chiếc kẹo kéo, con tò he xanh đỏ... lại theo chân người đi chợ về khắp nẻo. Để rồi cái tên chợ Gôi không chỉ còn là một địa danh, mà còn giữ lại cái nếp quê, cái hồn quê đã được vun bồi qua năm tháng.
Bà Lê Thị Thủy (xã Sơn Tiến) cho biết: “Chợ Gôi dù đã nhiều lần chuyển địa điểm nhưng chúng tôi vẫn gắn bó với chợ, với nghề buôn bán ở đây. Đến nay, các phiên chợ chính vẫn khá đông đúc, đặc biệt là phiên chợ trâu. Khách trong Nam, ngoài Bắc về đây vẫn tìm mua bánh gạo đúc đỏ, một sản phẩm đã gắn với chợ từ lâu. Chính vì vậy mà chúng tôi vẫn giữ nghề, vẫn yêu nghề và mong muốn giữ nếp chợ truyền thống".
Với những người xa quê, chợ Gôi ở xã Sơn Tiến vẫn là một chốn để tìm về. Có khi người ta trở lại không phải để mua một món hàng, mà để gặp lại những gương mặt đã quen từ thuở ấu thơ, những cụ bà vẫn ngồi nơi góc chợ cũ, những người hàng xóm năm nào còn giữ nguyên tiếng chào, câu hỏi thăm thân thuộc. Chính những điều bình dị ấy đã giữ cho chợ Gôi một phần hồn quê, để mỗi lần trở về, người ta vẫn thấy mình thuộc về nơi ấy.
Anh Nguyễn Quốc Dũng (thành phố Đà Nẵng) cho biết: “Sinh và lớn lên ở vùng đất Hương Sơn, tuổi thơ của tôi gắn với chợ Gôi. Bây giờ đi xa lập nghiệp, mỗi lần có dịp trở về quê, tôi vẫn thường xuyên ghé về chợ. Có khi chỉ mua một món nhỏ thôi, nhưng cái mình tìm lại là hương vị, là những ký ức quê hương”.
Mỗi tên chợ như một lớp trầm tích của làng quê, cất giữ một câu chuyện, một dấu ấn riêng. Nếu chợ Trổ, chợ Gôi còn lưu tên những vùng đất cổ, thì chợ Trại bên dòng Hộ Độ lại mang trong tên gọi dấu ấn của một nghề mưu sinh ven sông. Thuở trước, dọc bờ Hộ Độ, ngư dân dựng những lán trại để nghỉ chân, vá lưới, rồi bày bán ngay những mẻ cá, con tôm vừa đưa từ sông lên bờ. Người mang cá đến, người gánh rau ghé lại. Chợ theo đó mà hình thành.
Từ những cuộc gặp gỡ bình dị ấy, chợ Trại không chỉ thành hình, mà còn thành nếp. Chợ còn gói cả cái tình người mộc mạc, chất phác ở vùng quê ven sông Hộ Độ. Ở đó người mua người bán dẫu quen hay lạ đều sẵn sàng bán chịu cho nhau, sẵn sàng đổi ngang cho nhau mớ cá, rổ khoai... Rồi khi ai đó ốm đau, hoạn nạn, họ còn tìm đến hỏi han, chia sẻ. Cái hồn quê cũng từ nếp sinh hoạt văn hóa ấy mà được đắp bồi.
Bà Trần Thị Tiến - tiểu thương kinh doanh tại chợ Trại cho biết: “Buôn bán ở chợ Trại lâu năm rồi nên chúng tôi coi nhau như người nhà. Sáng ra gặp nhau, nói dăm ba câu chuyện, cùng buôn bán, cùng vui buồn theo những phiên chợ đắt khách hay ế ẩm. Có những người gắn bó với chợ từ ngày còn trẻ, đến nay tóc đã bạc nhưng vẫn ngày ngày ra chợ. Với chúng tôi, chợ Trại không chỉ là nơi mưu sinh mà đã trở thành một phần quen thuộc của cuộc sống”.
Sông Hộ Độ vẫn còn đó, vẫn ngược xuôi những chuyến mưu sinh. Những lán trại năm nào đã lùi vào ký ức, chợ Trại cũng ngày một khang trang, hàng hóa phong phú hơn. Nhưng mỗi sớm mai, cá, tôm và những sản vật vừa rời sông vẫn theo chân ngư dân về chợ, như cách phiên chợ bên sông vẫn giữ lấy cái mộc mạc vốn có của mình.
Mỗi tên chợ đều gắn với lịch sử của một vùng đất, với phong tục, nếp sống và cách người dân mưu sinh qua từng thời kỳ. Bởi thế, những cái tên tưởng như bình dị ấy trở thành những mạch nối để những người nặng lòng với văn hóa lần tìm dấu xưa, sưu tầm, đối chiếu và ghi chép lại những lớp ký ức của đất và người. Từ đó, phía sau mỗi tên chợ không chỉ hiện lên một câu chuyện, mà còn là những giá trị riêng đã bền bỉ làm nên diện mạo của từng vùng quê.
Ông Nguyễn Thế Phiệt (xã Mai Hoa), người có hơn 20 đầu sách chuyên khảo về văn hóa làng xã ở vùng đất Hà Tĩnh và Nghệ An chia sẻ: “Tên chợ thường gắn với tên làng, nhưng lại tồn tại lâu hơn tên làng. Bởi làng là một địa giới hành chính và qua các thời kỳ có thể có nhiều thay đổi, sáp nhập, chia tách. Còn tên chợ, một khi đã ăn sâu vào đời sống và ký ức của người dân thì thường được lưu giữ qua nhiều thế hệ. Hà Tĩnh hiện vẫn còn nhiều tên chợ cổ được gìn giữ, đó là điều rất đáng quý, bởi phía sau mỗi cái tên là cả một phần gốc tích, lịch sử của vùng đất. Chúng tôi cũng mong muốn tìm lại lịch sử, ghi chép và lưu giữ những giá trị ấy cho các thế hệ sau”.
Những câu chuyện về tên chợ không chỉ nằm lại trong những trang sách, những dòng ghi chép, mà vẫn hiện diện trong đời sống thường nhật của mỗi làng quê. Một lần trở lại chợ cũ, chạm vào một món quà quê, hay thoảng qua một tiếng gọi thân thuộc… những ký ức tưởng đã ngủ yên bỗng ùa về. Từ những phiên chợ ấy, bao lớp người đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành, để rồi khi bóng đã xế, vẫn tha thiết nhớ dáng mẹ tảo tần, nhớ những buổi chợ sớm hôm, thèm được nếm lại hương vị của những món ăn đã gắn với tuổi thơ.
Nhà thơ Nguyễn Văn Thanh (xã Lộc Hà) chia sẻ: “Ký ức về những phiên chợ trong tôi sâu đậm lắm. Đó là cả một phần tuổi thơ, là những buổi tôi ngóng mẹ trở về sau mỗi phiên chợ. Những hình ảnh rất đỗi bình dị ấy cứ ở lại trong ký ức, trở thành nguồn cảm hứng để sau này tôi đưa vào những bài thơ viết cho thiếu nhi. Với thế hệ chúng tôi, chợ không chỉ là nơi mua bán mà còn là nơi lưu giữ rất nhiều kỷ niệm của tuổi thơ”.
Cũng từ những phiên chợ ấy, những món quà quê được giữ lại, những cách làm được truyền qua bao thế hệ, những gánh hàng vẫn tiếp tục theo người dân ra chợ. Và thứ người ta lưu giữ trao truyền qua năm tháng không đơn thuần là tên gọi mà là một nếp sinh hoạt, một phần hồn của làng quê.
Giữa bao đổi thay, có những điều dường như vẫn vẹn nguyên: một tên gọi được truyền qua bao đời, một phiên chợ còn giữ nếp cũ, một cách gọi nhau vẫn đậm nghĩa tình. Có lẽ cũng vì thế mà mỗi tên chợ không chỉ gọi một nơi chốn, mà còn gọi về một miền quê. Trong những cái tên mộc mạc ấy còn thấp thoáng bóng dáng của những vùng đất xưa, những lớp người đã đi qua, những phong tục đã bền bỉ theo năm tháng... Để rồi, mỗi lần một tên chợ được cất lên, cũng là một lần hồn quê lại phả vào lòng người bao nhiêu thương nhớ.