Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và những mẫu hình giá trị “Tam vị nhất thể”

(Baohatinh.vn) - Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1724-1791) là một Đại danh y - nhà văn lớn - nhà văn hóa xuất sắc của dân tộc và Hà Tĩnh. Ông đã để lại cho hậu thế một khối di sản văn hóa đồ sộ, có giá trị sâu sắc, bền vững về nhiều mặt, về cơ bản được tập hợp trong bộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” - công trình đồ sộ, được viết chủ yếu bằng chữ Hán, gồm 28 tập/66 quyển.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và những mẫu hình giá trị “Tam vị nhất thể”

Tượng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đặt trên đồi Minh Tự (xã Sơn Trung, Hương Sơn).

“Hải Thượng y tông tâm lĩnh” không chỉ đề cập, bàn luận tới hầu hết các vấn đề của y học mà còn nhiều nội dung thuộc các lĩnh vực khác... Tất cả đều gắn kết, thống nhất với nhau, cho thấy Lê Hữu Trác có cả một hệ thống tư tưởng đúng đắn, tiến bộ với cốt lõi là vì sự sống, vì vận mệnh con người. Tầm vóc văn hóa lớn lao của phong cách “Tam vị nhất thể” (3 “nhà” trong một “nhà”, 3 loại hoạt động trong một chủ thể “quản trị”, 3 đối tượng trong một mối liên hệ chia sẻ) ở Lê Hữu Trác càng ngày càng hiển hiện, tỏa sáng, có sức sống vượt không gian, thời gian.

“Tam vị nhất thể”, phong cách độc đáo Hải Thượng Lãn Ông

1. Ba tư cách trong một nhân cách vì sự sống và sự toàn thiện của con người

Trước hết, với tư cách là người thầy thuốc, Lê Hữu Trác hội đủ trong mình mọi phẩm giá ưu trội của một bậc đại danh y, từ quan niệm về nghề y đến sự chuẩn bị các thứ vốn và năng lực hành nghề. Cả 5 phương diện y đức, y lý, y thuật, dược, dưỡng sinh, hiếm có trường hợp nào bao quát toàn diện như Lê Hữu Trác. Hoàn toàn có cơ sở để đối sánh Lê Hữu Trác với những đại danh y nổi tiếng thời tiền hiện đại trên thế giới (Tôn Tư Mạc, Lý Thời Trân/Trung Quốc; Hippocrates - “ông tổ” của y học và là người thầy thuốc vĩ đại nhất lịch sử thời cổ đại Hy Lạp...).

Với tư cách là một thầy giáo, trên cả 3 phương diện: giảng dạy, cung cấp học liệu và kiểm tra/đánh giá, Lê Hữu Trác đều chu đáo. Ông dạy học vừa theo con đường trực tiếp vừa qua tài liệu do ông “thâu tóm hàng trăm cuốn sách, đúc thành một pho” cung cấp cho học trò. Ông truyền cho người học cách học, cách tiếp cận vấn đề theo hướng chủ động, biết suy ngẫm, tìm tòi, sáng tạo, học đi đôi với hành. Nhiều thế hệ lương y được học ông qua tài liệu đã tôn ông là sư phụ; ngay đương thời, có người đã vẽ tranh thờ sống ông.

Với tư cách là một nhà văn, Lê Hữu Trác để lại một khối lượng thơ, văn không nhỏ, bằng cả chữ Hán và chữ Nôm theo nhiều thể loại khác nhau. Đặc biệt, “Thượng kinh ký sự” - quyển cuối cùng của bộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” đã đưa Lê Hữu Trác vào danh sách các tác gia lớn của văn học Việt Nam. “Thượng kinh ký sự” tái hiện một cách chân thực bức tranh hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam nửa sau thế kỷ XVIII với nhiều mảng màu sắc nét. Ở đây, ngoài hình tượng thế giới hiện thực, là hình tượng một cái tôi tác giả ưu thời mẫn thế, vừa trong vai một lương y, vừa trong vai một nghệ sĩ ngôn từ, tất cả vì số phận con người. Thượng kinh ký sự “không chỉ là đỉnh cao, là sự hoàn thiện thể ký Việt Nam thời trung đại, mà còn là mực thước cho lối viết ký sau này” (Nguyễn Đăng Na)...

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và những mẫu hình giá trị “Tam vị nhất thể”

Nhà thờ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác ở quê mẹ Quang Diệm (Hương Sơn).

2. Ba loại hoạt động trong sự kiểm soát chặt chẽ của một chủ thể quản trị

Trong hoạt động y học, Lê Hữu Trác đã tạo được ba trong một cấu trúc chỉnh thể: ông vừa là nhà lập thuyết (bao hàm cả y đức, y lý, y thuật, dược và dưỡng sinh), vừa là nhà thực hành (trực tiếp khám, chữa bệnh; trực tiếp sáng chế; trực tiếp sử dụng thuốc chữa bệnh) đồng thời là người kiểm định cả phần lý thuyết và thực hành của mình. Trên từng phương diện, ông đều triển khai thực thi hữu hiệu.

Lê Hữu Trác đã tạo dựng được một hệ thống lý luận vững chắc, có giá trị bền vững về nhiều vấn đề thiết yếu của ngành y (nguồn gốc của y học; những điểm cơ bản của đông y; lý luận về âm dương, ngũ hành, tạng phủ, kinh lạc, khí huyết, chẩn đoán, mạch học, bệnh lý, trị pháp; bí ẩn của âm dương, thủy hỏa, cơ năng sinh lý, bệnh lý của chân thủy, chân hỏa; những điều trọng yếu của hậu thiên tỳ vị, cơ năng tiêu hóa, tác dụng của khí huyết, bệnh lý và phép chữa...).

Danh y đồng thời cũng đã vạch rõ các phương pháp và phác đồ điều trị nhiều loại bệnh (các loại bệnh cơ yếu; bệnh ngoại cảm; các loại bệnh phụ khoa, sản khoa, nhi khoa; các loại bệnh đậu mùa, sởi...). Ông còn đúc kết, thâu tóm những điều cốt yếu nhất về nguyên tắc chẩn đoán, dùng thuốc trị bệnh, giúp cho các thế hệ thầy thuốc đương thời và về sau học tập, vận dụng.

Về dược, Lê Hữu Trác tập trung làm rõ 3 nội dung lớn: lý luận về vai trò, công năng của dược phẩm và phân loại dược phẩm; sưu tầm, tập hợp các phương thuốc, vị thuốc (từ nhiều nguồn); phát hiện, biên soạn các phương thuốc, vị thuốc mới. Tổng cộng tất cả các vị thuốc, phương thuốc do ông sưu tầm và bổ sung, phát hiện là 4.598 - một con số thật đáng nể phục. Về dưỡng sinh, Lê Hữu Trác cũng rất chú trọng và đề ra các phương pháp dưỡng sinh cụ thể, dễ thực hiện.

Y lý và y thuật của Lê Hữu Trác được ứng dụng và phát huy rộng rãi trong trị liệu không chỉ ở trong nước mà còn ở cả nước ngoài. Một số bài thuốc của ông (Lục vị, Bát vị...) được các cơ sở sản xuất thuốc y học cổ truyền sản xuất theo hướng hiện đại hóa đang phát triển mạnh mẽ. Tại Việt Nam, “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” là sách cơ sở đối với việc giảng dạy chuyên môn và trị liệu; được đưa vào giảng dạy trong chương trình đại học và sau đại học ở các trường, học viện.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và những mẫu hình giá trị “Tam vị nhất thể”

Những hiện vật nghề y của Đại danh y Lê Hữu Trác tại nhà thờ ông ở xã Quang Diệm.

3. Ba đối tượng trong một mối liên hệ chia sẻ văn hóa, nhân văn

Trước hết, với dân tộc: Lập trường dân tộc là điều kiên định ở Lê Hữu Trác. Ông không chỉ bảo vệ, gìn giữ mà còn tìm cách kiến tạo bản sắc dân tộc, từ văn hóa, văn học, thẩm mỹ... đến ẩm thực, đặc biệt trong y học. Quan điểm “Nam dược trị Nam nhân” (vốn kế thừa từ Tuệ Tĩnh) được Lê Hữu Trác phát triển rất thành công. Biên soạn “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”, ông có tiếp thu thành tựu văn hóa và y học cổ truyền Trung Quốc, nhưng cách tiếp thu có chọn lọc, có phản biện, phê phán. Cùng với những sáng tạo của riêng mình, ông đã phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận về cả y đức, y lý, y thuật trước hết nhằm phù hợp và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, con người Việt Nam, “Hệ thống được mô tả trong “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” đã tạo nên bản sắc riêng biệt của nền y học Việt Nam” (GS. Mayanagi Makoto - Nhật Bản).

Với các nước khu vực Đông Á: Những lập luận, kiến giải về văn hóa nói chung, y học nói riêng của Lê Hữu Trác đã góp phần quan trọng trong kích hoạt mối quan hệ, giao lưu giữa Việt Nam với các nước, giúp cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước càng được củng cố, phát triển. Qua “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”, giới y học các nước đã biết đến nền y học Việt Nam với những nét gặp gỡ, tương đồng và những nét khác biệt, đặc thù. Giới nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong khu vực ngày càng quan tâm hơn đến Lê Hữu Trác. Trương Tú Dân xem Lê Hữu Trác là “Y Thánh”; Lý Cơ Hạo và Diêu Khiết Mẫn khẳng định Lê Hữu Trác “đã đưa ra một lý thuyết mới”...

Với quốc tế/nhân loại: “Hệ y đức của Lãn Ông đã chạm đến một cách sâu sắc những nhu cầu thông thường nhất của con người, có giá trị bền vững với thời gian và xuyên qua những khác biệt của các nền văn hóa” (Đinh Trung Hòa - Australia).

Trong con mắt của giới nghiên cứu phương Tây, Lê Hữu Trác càng trở nên như là một hiện tượng văn hóa đặc biệt. Yveline Féray (Pháp) viết tiểu thuyết lịch sử Lãn Ông; Albert Sallet - nhà khoa học phương Tây đầu tiên nghiên cứu về Lê Hữu Trác. Cho đến nay, ở nước ngoài, đã có ít nhất 10 luận án nghiên cứu về Lê Hữu Trác, viết bằng các thứ tiếng Pháp, Đức, Thụy sĩ, Bỉ, Hoa Kỳ, Trung Quốc... Gần đây, trong y học, xuất hiện khái niệm “Phương pháp Hải Thượng” và đã được đưa vào các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, thực hành ở nhiều cơ sở y dược trong nước và trên thế giới (ở Rillieux La Pape - Pháp; ở European Institute of Applied Buddhism - Đức v.v...).

Vì lẽ đó, ngày 21/11/2023, tại Paris, Đại Hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) khóa 42 đã thông qua Nghị quyết vinh danh và tham gia kỷ niệm các “Danh nhân văn hóa và sự kiện lịch sử” thế giới vào năm 2024-2025, trong đó có Lê Hữu Trác của Việt Nam (“42C/ Conférence générale 42e session, Paris 2023: 52. 300th anniversary of the birth of Hai Thuong Lan Ong Le Huu Trac, physician, 1724-1791”).

Với những đóng góp lớn lao cho văn hóa dân tộc, khu vực và nhân loại, Danh nhân Lê Hữu Trác hoàn toàn xứng đáng với những gì tốt đẹp nhất mà UNESCO cũng như loài người ban tặng, hy vọng. Trước thềm năm mới Giáp Thìn, chúng ta tự hào, háo hức chờ đón giờ phút đăng quang đặc biệt của Hải Thượng sau 300 năm tại hội thảo khoa học quốc tế và lễ vinh danh - kỷ niệm ngày sinh của ông (tổ chức vào tháng 11/2024).

(Trường Đại học Vinh)

Chủ đề Danh nhân Hà Tĩnh

Chủ đề 300 năm Ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác

Đọc thêm

Nhà nghiên cứu văn hóa Lê Văn Tùng: Viết để trả nợ quê hương, nối quá khứ với tương lai

Nhà nghiên cứu văn hóa Lê Văn Tùng: Viết để trả nợ quê hương, nối quá khứ với tương lai

Một ngày đầu đông, tôi và nhà nghiên cứu văn hóa (NCVH) Lê Văn Tùng thả bộ từng bước chân trên lối xưa Thành Sen với bao hoài niệm về mảnh đất yêu dấu. Dường như 3 con người đang hòa vào một trong vóc dáng ông: một nhà giáo mẫu mực, một nhà hoạt động chính trị sắc sảo và một nhà NCVH uyên thâm.
Sức mạnh đoàn kết ở Vĩnh Phong

Sức mạnh đoàn kết ở Vĩnh Phong

Những ngày này, dù mưa rét nhưng không khí vui tươi vẫn tràn ngập khắp TDP Vĩnh Phong (phường Trần Phú, Hà Tĩnh). Niềm hân hoan ấy được tạo nên nhờ tinh thần đoàn kết được xây đắp qua nhiều năm tháng.
Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Trường Lưu

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Trường Lưu

Trường Lưu không chỉ mang vẻ đẹp của một miền quê thanh bình mà còn lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc được thế giới vinh danh. Các di sản ấy được gìn giữ và phát huy, trở thành niềm tự hào của quê hương.
Chuyện chưa kể về anh nông dân chèo đò cứu trợ giữa tâm lũ

Chuyện chưa kể về anh nông dân chèo đò cứu trợ giữa tâm lũ

Khi xã Cẩm Duệ (Hà Tĩnh) chìm sâu trong dòng nước xiết do mưa lớn và xả tràn Kẻ Gỗ, người nông dân Nguyễn Văn Hương (SN 1980) đã biến chiếc thuyền độc mộc thành cây cầu nối sự sống tại "túi lũ" thôn Na Trung. Bất chấp hiểm nguy, anh đã tiếp sức kịp thời và trấn an tinh thần cho hơn 270 hộ dân bị cô lập nơi đây.
Đại thi hào Nguyễn Du - người của miền dân dã

Đại thi hào Nguyễn Du - người của miền dân dã

Dù sinh ra trong gia đình quý tộc nhưng Nguyễn Du chọn hòa mình với các tầng lớp nhân dân, nhất là quãng thời gian ở quê nội Tiên Điền (Hà Tĩnh). Điều đó đã giúp Đại thi hào hiểu rõ hơn cuộc sống người dân, yêu thương mọi kiếp người, hun đúc trái tim nhân đạo rộng lớn.
NSƯT Tạ Hồng Dương: “Con đò” ngược xuôi giữa đôi bờ ví, giặm

NSƯT Tạ Hồng Dương: “Con đò” ngược xuôi giữa đôi bờ ví, giặm

Không biết từ bao giờ, tôi đã ghi nhớ về NSƯT Tạ Hồng Dương - hiện là Phó Giám đốc Trung tâm Nghệ thuật truyền thống Nghệ An – trong hình ảnh một con đò. Có lẽ là khi dòng chữ tên anh vang lên trong lời giới thiệu về đạo diễn của vở kịch hát dân ca nào đó, có thể là khi tên anh lặng lẽ hiện lên ở phần giới thiệu thành phần sáng tạo một chương trình nghệ thuật được phát trên truyền hình, cũng có thể là khi anh lặng lẽ ngồi làm giám khảo một cuộc liên hoan dân ca ví, giặm ở Hà Tĩnh… Dù ở đâu, trong vai trò nào, anh cũng hiện lên giản dị, như con đò cần mẫn ngược xuôi giữa đôi bờ ví, giặm.
Tiên Điền hôm nay...

Tiên Điền hôm nay...

Tựa vào núi Hồng, soi bóng dòng Lam, Tiên Điền (Hà Tĩnh) hôm nay mang dáng hình rộng mở, năng động.
Hoàng giáp Vũ Diệm - Người con núi Hồng làm rạng danh quê hương

Hoàng giáp Vũ Diệm - Người con núi Hồng làm rạng danh quê hương

Ít ai biết rằng, câu thành ngữ nổi tiếng một thời ở kinh đô Thăng Long “Bút Cấm Chỉ, sĩ Thiên Lộc” nói về vùng đất hiếu học ở Hà Tĩnh là xuất phát từ người học trò có tên Vũ Diệm, quê ở làng Thổ Vượng, sau này thi đỗ Hoàng giáp, giúp nước, giúp dân.
Không ngừng “làm dày” di sản Nguyễn Du và Truyện Kiều

Không ngừng “làm dày” di sản Nguyễn Du và Truyện Kiều

Cùng với công tác bảo tồn, BQL Khu di tích Nguyễn Du (xã Tiên Điền, Hà Tĩnh) đã nỗ lực sưu tầm nhiều tư liệu, hiện vật, khảo cứu và xuất bản nhiều ấn phẩm liên quan về Đại thi hào Nguyễn Du, dòng họ Nguyễn Tiên Điền, Truyện Kiều..., qua đó, làm dày thêm và lan tỏa di sản Nguyễn Du.
Người thợ cốp pha lan tỏa lối sống đẹp

Người thợ cốp pha lan tỏa lối sống đẹp

Không danh lợi, không ồn ào, chỉ lặng lẽ cứu người, giúp đời bằng cả tấm lòng - đó là cách anh Đậu Văn Mân (Đội trưởng đội cứu hộ, cứu nạn 0 đồng SOS Mân Côi Hà Tĩnh) đang sống và hành động suốt những năm qua.
"Vì người nghèo" - Hành trình của yêu thương!

"Vì người nghèo" - Hành trình của yêu thương!

Những ngôi nhà được dựng lại sau bão, những mô hình sinh kế được trao cho người dân đã tạo nên dòng chảy yêu thương lan tỏa, thể hiện trách nhiệm, tinh thần đoàn kết trong mục tiêu phát triển bền vững ở Hà Tĩnh, không để ai bị bỏ lại phía sau.
"Cây sáng kiến" ở Vườn quốc gia Vũ Quang

"Cây sáng kiến" ở Vườn quốc gia Vũ Quang

Hơn 12 năm công tác tại Vườn Quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh), anh Lê Thanh Toán đã trở thành tấm gương tiêu biểu về tinh thần trách nhiệm, lòng tận tụy và sự sáng tạo trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học.
Những bông hoa đẹp trong phong trào thi đua yêu nước

Những bông hoa đẹp trong phong trào thi đua yêu nước

Không chỉ giỏi việc nước, đảm việc nhà, nhiều phụ nữ Hà Tĩnh đã và đang tỏa sáng trong các phong trào thi đua yêu nước, trở thành những bông hoa đẹp, góp phần làm rạng rỡ thêm truyền thống của phụ nữ Việt Nam.
Vì sao người Hà Tĩnh ưu tiên làm nhà kiên cố, mua xe?

Vì sao người Hà Tĩnh ưu tiên làm nhà kiên cố, mua xe?

Nếu người ở những tỉnh có mưa thuận gió hòa từng sống, trải qua những ngày tháng tại Hà Tĩnh như tháng 10 này, sẽ thấu hiểu vì sao người quê tôi dồn tiền bạc, chắt bóp để làm nhà kiên cố, mua xe...
Còn mãi ký ức Ngày Giải phóng Thủ đô

Còn mãi ký ức Ngày Giải phóng Thủ đô

Đã 71 năm trôi qua, song với cựu chiến binh Hồ Sỹ Cúc (95 tuổi, TDP Liên Công, phường Trần Phú, Hà Tĩnh), ký ức hào hùng về ngày cùng đồng đội tiến qua 5 cửa ô về tiếp quản Thủ đô (10/10/1954) vẫn vẹn nguyên niềm tự hào.