Đâu là nguyên nhân?
Theo mức giá Sở Xây dựng Hà Tĩnh công bố hiện nay, đất san lấp dao động khoảng 63-72 nghìn đồng/m³ (chưa bao gồm thuế). Tuy nhiên, sau khi cộng chi phí khai thác và vận chuyển đến công trình, giá thực tế có thể lên tới 160-165 nghìn đồng/m³ (đã bao gồm thuế), cao hơn khoảng 90-100 nghìn đồng/m³ so với giá công bố.
Không chỉ đất san lấp, giá cát xây dựng cũng ghi nhận mức chênh lệch đáng kể giữa giá công bố và giá thực tế, khiến nhiều nhà thầu gặp khó khăn trong cân đối chi phí thi công. Đối với những dự án cần hàng trăm nghìn m³ vật liệu, khoản chênh lệch này là con số không nhỏ. Chi phí tăng thêm không chỉ gây áp lực cho doanh nghiệp thi công mà còn ảnh hưởng đến công tác lập dự toán, cân đối nguồn vốn và tổ chức thực hiện dự án.
Theo ông Trần Văn Bình - Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng Khánh Môn (phường Trần Phú), thời gian qua, giá nhiều loại vật liệu xây dựng tăng theo biến động của thị trường xăng dầu. Tuy nhiên, khi giá nhiên liệu đã giảm, giá vật liệu vẫn duy trì ở mức cao. Điều này khiến nhiều nhà thầu gặp khó khăn trong quá trình thi công, thậm chí có những công trình càng triển khai càng lỗ.
"Hiện nay, giá cát vận chuyển về đến công trình dao động khoảng từ 285-290 nghìn đồng/m³, trong khi đơn giá được tính trong dự toán xây lắp chỉ khoảng 220 nghìn đồng/m³. Như vậy, mỗi m³ cát nhà thầu phải bù thêm khoảng 65-70 nghìn đồng. Với những công trình sử dụng khối lượng cát lớn, khoản chi phí phát sinh có thể lên tới hàng tỷ đồng, tạo áp lực rất lớn đối với doanh nghiệp thi công” - ông Bình cho hay.
Theo thống kê, Hà Tĩnh hiện có 17 mỏ đất và 5 mỏ cát đang hoạt động, với tổng công suất khai thác gần 8,2 triệu m³/năm. Về cơ bản, nguồn cung này đáp ứng nhu cầu vật liệu phục vụ các công trình trên địa bàn. Có thể thấy, khó khăn hiện nay không còn nằm ở nguồn cung mà ở chi phí hình thành giá vật liệu đến công trình. Điều khiến nhiều nhà thầu lo ngại là khoảng cách khá lớn giữa mức giá vật liệu được cơ quan chức năng công bố với giá thực tế sau khi cộng các chi phí khai thác, bốc xúc và vận chuyển. Chính khoảng "vênh" này đang tạo áp lực lớn đối với nhiều dự án.
Lý giải về nguyên nhân này, ông Nguyễn Ngọc Tú - Phó Trưởng phòng Quản lý hoạt động xây dựng (Sở Xây dựng Hà Tĩnh) cho biết: “Giá vật liệu do Sở công bố là giá tại mỏ, nhà máy hoặc điểm tập kết theo quy định. Trong khi đó, giá vật liệu đến công trình còn bao gồm chi phí vận chuyển, bốc xếp, lưu bãi và nhiều khoản chi phí khác nên thường cao hơn”.
Có thể thấy, khoảng cách giữa giá công bố và giá giao dịch thực tế không đơn thuần là chênh lệch về con số, mà xuất phát từ sự khác nhau trong căn cứ xác định giá. Giá công bố được xây dựng theo quy định, phản ánh mức giá tại mỏ hoặc điểm tập kết ở từng thời điểm; trong khi giá đến tận công trình lại cộng thêm nhiều chi phí phát sinh. Khi các yếu tố này biến động nhanh, bảng giá công bố khó có thể phản ánh kịp thời toàn bộ chi phí thực tế của doanh nghiệp.
Kê khai giá - giải pháp căn cơ để bình ổn thị trường
Nếu như trước đây, bài toán lớn nhất của các dự án là thiếu nguồn vật liệu thì hiện nay, theo nhiều doanh nghiệp, vấn đề đáng lo ngại hơn là cơ chế xác định giá chưa theo kịp diễn biến thị trường. Với Công ty CP Xây dựng Tân Hải Sơn (phường Thành Sen) - đơn vị đang thi công nhiều công trình trên địa bàn Hà Tĩnh, áp lực về chi phí ngày càng gia tăng khi giá vật liệu liên tục biến động nhưng đơn giá làm căn cứ lập dự toán chưa theo kịp thực tế.
Ông Võ Mạnh Đường - Phó Giám đốc Công ty CP Xây dựng Tân Hải Sơn cho biết: “Từ đầu năm 2026 đến khoảng tháng 2, giá các loại vật liệu xây dựng tương đối ổn định, giúp doanh nghiệp chủ động trong việc lập kế hoạch thi công và cân đối chi phí. Tuy nhiên, từ tháng 3 trở lại đây, giá đất, cát đều tăng mạnh, trong khi đơn giá công bố chưa được cập nhật tương ứng với diễn biến của thị trường. Điều này khiến chi phí thực tế phát sinh cao hơn nhiều so với dự toán, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thi công của doanh nghiệp. Trước thực tế đó, đơn vị đã nhiều lần kiến nghị chủ đầu tư và ban quản lý dự án xem xét cập nhật đơn giá vật liệu phù hợp với tình hình thực tế, qua đó tháo gỡ khó khăn cho nhà thầu và bảo đảm tiến độ các công trình”.
Ở góc độ doanh nghiệp khai thác, đại diện các chủ mỏ cho rằng, giá vật liệu đến tận công trình không chỉ phụ thuộc vào giá bán tại mỏ mà còn chịu tác động của nhiều khoản chi phí phát sinh trong quá trình khai thác, vận chuyển và cung ứng. Ông Phan Công Chính - Giám đốc Công ty TNHH Sáng Gia Tân Tiến (chủ mỏ đất ở xã Đức Thịnh) lý giải: "Thực tế, chi phí nhiên liệu chỉ là một trong nhiều yếu tố cấu thành giá bán vật liệu. Doanh nghiệp còn phải chi trả nhiều khoản chi phí khác như tiền thuê đất, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, nhân công, khấu hao máy móc... Đây đều là những khoản chi phí khó cắt giảm nên giá bán tại mỏ cũng khó có thể giảm sâu".
Những ý kiến từ phía nhà thầu và doanh nghiệp khai thác cho thấy, bài toán giá vật liệu xây dựng không thể giải quyết chỉ bằng việc tăng nguồn cung hay mở thêm mỏ khai thác. Điều quan trọng là cơ chế xác định và cập nhật giá phải phản ánh sát diễn biến của thị trường, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp khai thác và các đơn vị thi công. Đây cũng là vấn đề đang được các cơ quan quản lý tập trung nghiên cứu, từng bước tháo gỡ trong thời gian tới.
Ông Nguyễn Ngọc Tú - Phó Trưởng phòng Quản lý hoạt động xây dựng (Sở Xây dựng Hà Tĩnh) nhấn mạnh: "Để từng bước khắc phục tình trạng này, Sở đã tham mưu UBND tỉnh thành lập đoàn kiểm tra liên ngành về khoáng sản và vật liệu xây dựng; đồng thời tham mưu ban hành các giải pháp quản lý, bình ổn giá vật liệu xây dựng. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã ban hành quyết định bổ sung đá xây dựng, cát xây dựng và đất san lấp vào danh mục hàng hóa đặc thù của địa phương thuộc diện phải kê khai giá theo quy định của Luật Giá năm 2023. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường quản lý, minh bạch thông tin về giá và từng bước kiểm soát diễn biến của thị trường vật liệu xây dựng.
Trong thời gian tới, Sở sẽ tiếp tục tham mưu UBND tỉnh ban hành quy định về đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của các loại vật liệu này, cùng đó là triển khai việc tiếp nhận kê khai giá theo quy định. Đây là giải pháp mang tính căn cơ, lần đầu tiên được áp dụng tại địa phương nhằm tạo công cụ quản lý, kiểm soát và bình ổn giá vật liệu xây dựng, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa giá công bố và giá giao dịch thực tế trên thị trường”.