Giải thích

Phạm Khắc Hòe sinh năm 1902, trong một gia đình có truyền thống khoa bảng tại làng Nhân (còn gọi là Kẻ Trổ), tổng Yên Hồ, phủ Đức Thọ, nay thuộc xã Đức Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
Ông lần lượt đỗ bằng Tiểu học Pháp - Việt rồi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Pháp luật và Hành chính Hà Nội. Sau đó, Phạm Khắc Hòe được phân công làm Tham tán Tòa sứ, công tác tại Huế và Quy Nhơn. Năm 1933, ông chuyển sang ngạch quan lại Nam triều, làm việc ở Đà Lạt và đến năm 1940 mới quay về Huế. Ông Phạm Khắc Hòe được Vua Bảo Đại tiến cử giữ chức Đổng lý Ngự tiền Văn phòng (tương đương quan Thượng thư) tại triều đình Huế vào năm 1944.
Khi Cách mạng tháng Tám 1945 diễn ra mạnh mẽ, sục sôi trong cả nước, nhiều vị quan trong triều đình nhà Nguyễn khuyên Vua Bảo Đại nên dựa vào Nhật - Pháp chống lại Việt Minh. Trái ngược với đa số cận thần, Phạm Khắc Hòe lại phân tích cho Vua hiểu về thất bại của phát xít Nhật trên thế giới và thắng lợi tất yếu của Việt Minh, tích cực vận động Vua Bảo Đại thoái vị. Sau cuộc họp nội các, Vua Bảo Đại đã yêu cầu Phạm Khắc Hòe soạn thảo Dụ số 105, tuyên bố ý định của ông là “sẵn sàng trao chính quyền cho Việt Minh”.
Giải thích

Chiều 30/8/1945, hàng chục nghìn người từ khắp nơi đổ về Ngọ Môn. Đúng 16h, Vua Bảo Đại mặc hoàng bào có thêu rồng trước ngực, đầu chít khăn vàng, quần lụa trắng, chân đi giày thêu, đứng trên lầu Ngũ Phụng ở cửa Ngọ Môn phía bên trái. Đoàn đại diện Chính phủ lâm thời đứng bên phải.
Sau khi Vua Bảo Đại đọc bản chiếu cuối cùng của triều đại, ông Trần Huy Liệu thay mặt Chính phủ lâm thời nhận chiếu thoái vị, quốc ấn và thanh kiếm vàng nạm ngọc - hai bảo vật tượng trưng quân quyền từ Vua. Thời khắc ấy, một tràng súng lệnh nổ rền vang. Trên kỳ đài, cờ vàng hạ xuống, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên giữa tiếng hoan hô như sấm của người dân.
Đáp lại lời tự nguyện thoái vị của Vua Bảo Đại, ông Trần Huy Liệu tuyên bố cáo chung chế độ quân chủ trên đất Việt Nam, nêu rõ đường lối của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong các trích đoạn sau, đoạn nào không xuất hiện trong chiếu thoái vị của Vua Bảo Đại?
Giải thích

“Chiếu thoái vị” là một văn kiện lịch sử có giá trị lớn, không chỉ về mặt chính trị mà còn là áng văn chương hàm chứa tinh thần yêu nước và tư tưởng độc lập sâu sắc. Trong đó, vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn đã tuyên bố: “Trẫm lấy làm vui được làm dân một nước độc lập, quyết không để ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay danh nghĩa của Hoàng gia mà lung lạc quốc dân nữa”.
Việc Vua Bảo Đại thoái vị đánh dấu một trong những cuộc chuyển giao quyền lực hòa bình hiếm hoi trong lịch sử thế giới. Trong khi nhiều nước rơi vào hỗn loạn, nội chiến sau cách mạng thì Việt Nam đã tránh được đổ máu, thể hiện sự tỉnh táo, khôn khéo của lực lượng cách mạng và tinh thần dân tộc của nhà vua.
Giải thích

Ít lâu sau lễ thoái vị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh điện vào Huế mời ông Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (tức cựu hoàng Bảo Đại) ra Hà Nội làm Cố vấn Chính phủ. Khi đó, ông Phạm Khắc Hòe cũng cùng ông Vĩnh Thụy đi ô tô ra Hà Nội và được giao chức Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ.
Đến ngày 6/1/1946, ông Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Những năm sau này, cựu hoàng xin từ chức Cố vấn Chính phủ. Ông sống lưu vong và qua đời tại Paris (Pháp).
Giải thích

Tháng 12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Pháp đánh chiếm Hà Nội, ông Phạm Khắc Hòe bị bắt giam vào nhà tù Hỏa Lò, sau đó bị đưa đi Đà Lạt rồi chuyển xuống Sài Gòn.
Trong thời gian này, thực dân Pháp nhiều lần tìm cách dụ dỗ ông hợp tác, thậm chí đề nghị ông nhận chức Thủ tướng “bù nhìn” của chúng tại Việt Nam. Dùng mọi cách không lôi kéo được, thực dân Pháp buộc phải đưa ông trở lại Hà Nội. Đến tháng 8/1947, ông tìm cách thoát khỏi sự quản thúc và được đưa ra vùng An toàn khu (ATK) Việt Bắc. Tại đây, ông tiếp tục đảm nhiệm chức vụ Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ. Từ tháng 12/1957, ông giữ chức Vụ trưởng Vụ Pháp chế Phủ Thủ tướng cho đến khi nghỉ hưu vào tháng 10/1964.
Trong suốt một chặng đường hoạt động Cách mạng đầy ý nghĩa, ông đã được tặng thưởng Huân chương độc lập hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Bảng vàng danh dự. Nói về việc làm của mình, trong tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”, ông Phạm Khắc Hoè đã viết: “Tôi làm việc theo tiếng gọi của Tổ quốc, theo sự thúc giục của lương tâm, với tấm lòng thiết tha mong muốn nước nhà có một chế độ mới thay thế chế độ vua quan lỗi thời…”.
Giải thích
Bạn hãy chăm chỉ hơn nhé!
Điểm