Quy định mới nhất về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố

Ở vùng Bắc Trung Bộ (trong đó có Hà Tĩnh), thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.

Ngày 26/5, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã ký ban hành Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 26/5/2026. Đồng thời, bãi bỏ các quy định liên quan đến người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố quy định tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ.

bfgga.png
Ở vùng Bắc Trung Bộ, thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.

Thành lập thôn, tổ dân phố phải phù hợp đặc điểm, điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế-xã hội, đặc điểm văn hóa, truyền thống

Về nguyên tắc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố, Nghị định nêu rõ, phải tuân thủ quy định của pháp luật; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; kế thừa và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp, phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm địa bàn, quy mô dân cư và điều kiện kinh tế-xã hội của địa phương; bảo đảm các điều kiện thiết yếu phục vụ tổ chức và hoạt động của cộng đồng dân cư. Chính quyền địa phương cấp xã có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện cần thiết cho tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố.

Việc sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố cần xem xét kỹ lưỡng các yếu tố về vị trí địa lý, địa hình, phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo, đặc điểm dân cư, trình độ phát triển kinh tế-xã hội và nguyện vọng của nhân dân tại địa phương.

Việc thành lập thôn, tổ dân phố phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế-xã hội, đặc điểm văn hóa, truyền thống; điều kiện đặc thù của từng đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp và mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp .

Thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đối với các thôn, tổ dân phố khi chưa bảo đảm tiêu chí theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu quản lý, phát triển kinh tế-xã hội, đô thị hóa, phân bố dân cư và yêu cầu tổ chức hoạt động của cộng đồng dân cư.

Việc sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố cần xem xét kỹ lưỡng các yếu tố về vị trí địa lý, địa hình, phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo, đặc điểm dân cư, trình độ phát triển kinh tế-xã hội và nguyện vọng của nhân dân tại địa phương; bảo đảm thực hiện tốt công tác quân sự, quốc phòng, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, thuận lợi cho đời sống, sinh hoạt của người dân và nâng cao hiệu quả quản lý, phục vụ nhân dân của chính quyền cơ sở.

Việc giải thể thôn, tổ dân phố thực hiện trong các trường hợp cần thiết do thay đổi các yếu tố địa lý, địa hình, do sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố hoặc do thực hiện phương án bồi thường, tái định cư.

Việc xác định loại hình thôn, tổ dân phố theo quy định tại Điều 2 Nghị định này và đặt tên thôn, tổ dân phố được thực hiện đồng thời trong quy trình thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố. Việc đổi tên thôn, tổ dân phố thực hiện trong trường hợp trùng tên thôn, tổ dân phố trong cùng một đơn vị hành chính cấp xã hoặc theo nguyện vọng của nhân dân ở thôn, tổ dân phố.

Nghị định nhấn mạnh, Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố trên địa bàn; ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có.

Ở đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương thì Ủy ban nhân dân đặc khu quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố trên địa bàn; ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có.

Tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố dựa theo quy mô số hộ gia đình

Tại Điều 10 của Nghị định quy định tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố theo quy mô số hộ gia đình với 2 thành phố lớn và 6 vùng kinh tế-xã hội sau sáp nhập tỉnh, thành phố năm 2025.

Ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên.

Ở vùng trung du và miền núi phía bắc, thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên.

Ở vùng đồng bằng sông Hồng, thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên.

Ở vùng Bắc Trung Bộ, thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.

Ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.

Ở vùng Đông Nam Bộ, thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên;

Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên.

Trường hợp Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định việc tổ chức và sử dụng tên gọi theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định này thì áp dụng tiêu chuẩn quy mô số hộ gia đình tương ứng với loại hình thôn hoặc tổ dân phố theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Nghị định này.

Ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên.

Ngoài ra, Nghị định cũng đề cập tới quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù.

Cụ thể, đối với thôn, tổ dân phố thuộc địa bàn miền núi, xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thôn đặc biệt khó khăn, thôn ở địa bàn có địa hình chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, dân cư sinh sống phân tán; thôn, tổ dân phố ở địa bàn biên giới, hải đảo hoặc thuộc khu vực quy hoạch giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư; thôn, tổ dân phố nằm biệt lập trên các đảo, cù lao, cồn trên sông thì quy mô số hộ gia đình có thể thấp hơn quy định nêu trên.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn cụ thể thôn, tổ dân phố trong các trường hợp đặc thù quy định tại điểm a khoản này, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, yêu cầu quản lý địa bàn, tổ chức hoạt động của cộng đồng dân cư, tính ổn định và gắn kết cộng đồng dân cư, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Cùng với đó, còn có quy định về thành lập thôn, tổ dân phố trong các trường hợp đặc biệt.

Thứ nhất, trường hợp thành lập phường từ xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm rà soát, xây dựng phương án sắp xếp; tổ chức lại thôn theo loại hình tổ dân phố để lấy ý kiến nhân dân đồng thời trong hồ sơ Đề án thành lập phường. Hội đồng nhân dân phường quyết định việc sắp xếp; tổ chức lại và sử dụng tên gọi tổ dân phố trên địa bàn kể từ ngày Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập phường có hiệu lực thi hành. Trường hợp cần thiết do yếu tố lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán hoặc yêu cầu thực tiễn của địa phương thì Hội đồng nhân dân cấp xã được quyết định tiếp tục sử dụng tên gọi truyền thống theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định này.

Trường hợp khi xây dựng hồ sơ Đề án thành lập phường từ xã mà chưa xây dựng được phương án sắp xếp, tổ chức lại để bảo đảm tiêu chuẩn quy mô số hộ gia đình của tổ dân phố quy định tại Nghị định này thì phải xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể thực hiện sắp xếp, tổ chức lại sau khi thành lập phường.

Thứ hai, trường hợp khu vực dân cư mới hình thành chưa đủ điều kiện để thành lập thôn, tổ dân phố theo quy định thì Ủy ban nhân dân cấp xã trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định việc ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có cho phù hợp, bảo đảm thuận lợi trong công tác quản lý của chính quyền địa phương cấp xã và các hoạt động của thôn, tổ dân phố.

Thứ ba, đối với thôn, tổ dân phố đã hình thành từ lâu do xâm canh, xâm cư trong cùng một đơn vị hành chính cấp tỉnh nhưng không làm thay đổi địa giới đơn vị hành chính cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã có liên quan thống nhất thực hiện việc chuyển giao cộng đồng dân cư để thuận tiện cho hoạt động quản lý và sinh hoạt của cộng đồng dân cư.

Sau khi thực hiện việc chuyển giao, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có thôn, tổ dân phố trước khi chuyển giao trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định giải thể thôn, tổ dân phố hoặc điều chỉnh phạm vi quản lý của thôn, tổ dân phố có liên quan;

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiếp nhận thôn, tổ dân phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định việc thành lập thôn, tổ dân phố mới nếu bảo đảm tiêu chí, điều kiện theo quy định của Nghị định này; trường hợp không bảo đảm tiêu chí, điều kiện thì thực hiện việc ghép vào thôn, tổ dân phố hiện có theo quy định tại khoản 2 Điều 11 của Nghị định này.

Lấy ý kiến nhân dân về Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố

Nghị định nêu rõ trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố theo các bước.

Căn cứ nguyên tắc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố; tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố theo quy định tại Nghị định này và hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến tham gia của nhân dân để hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định.

Hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố gồm: Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp xã; Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố; Báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của nhân dân; Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã.

Trên cơ sở hồ sơ do Ủy ban nhân dân cấp xã trình, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết về việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.

Tại đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân đặc khu tổ chức xây dựng Đề án, lấy ý kiến nhân dân và quyết định việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố theo trình tự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 11 của Nghị định này.

Hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại các điểm a, b và điểm c khoản 3 Điều 11 và dự thảo Quyết định của Ủy ban nhân dân đặc khu.

Trên cơ sở hồ sơ được hoàn thiện, Ủy ban nhân dân đặc khu ban hành Quyết định về việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trên địa bàn.

Đồng thời cũng quy định về trình tự, thủ tục, hồ sơ giải thể, đổi tên thôn, tổ dân phố; ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có; đổi tên thôn, tổ dân phố; ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có.

Tại đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân đặc khu thực hiện trình tự xây dựng hồ sơ, lấy ý kiến nhân dân đối với việc giải thể, đổi tên thôn, tổ dân phố, ghép cụm dân cư theo quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 3 Điều này. Trên cơ sở hồ sơ được hoàn thiện, Ủy ban nhân dân đặc khu xem xét, ban hành Quyết định về việc giải thể, đổi tên thôn, tổ dân phố hoặc ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có trên địa bàn.

Trước đó, thông tin từ Bộ Nội vụ cho biết, thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và các quy định của pháp luật hiện hành, việc sắp xếp thôn, tổ dân phố thời gian qua đã đạt kết quả quan trọng. Số lượng thôn, tổ dân phố đã giảm từ 136.824 đơn vị năm 2015 xuống còn 89.574 năm 2025 (giảm 47.250 đơn vị, tương đương 34,53%).

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thôn, tổ dân phố chưa bảo đảm tiêu chí về quy mô số hộ gia đình theo quy định hiện hành và không đồng đều giữa các vùng, miền.

Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã năm 2025, bình quân số thôn, tổ dân phố trên mỗi đơn vị hành chính cấp xã tăng lên nhiều (từ khoảng 9 thôn, tổ dân phố/1 cấp xã lên khoảng 27 thôn, tổ dân phố/1 cấp xã), làm tăng số lượng đầu mối và tạo áp lực quản lý lớn đối với chính quyền cấp xã; đồng thời quy định hiện hành chưa được điều chỉnh phù hợp thực tiễn hiện nay.

nhandan.vn

Chủ đề Sắp xếp thôn, tổ dân phố

Đọc thêm

Trao quyết định bổ nhiệm 2 Phó Tổng Thanh tra Chính phủ

Trao quyết định bổ nhiệm 2 Phó Tổng Thanh tra Chính phủ

Sáng 7/9, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu dự Lễ công bố quyết định của Thủ tướng về việc điều động, bổ nhiệm nhân sự giữ chức Phó Tổng Thanh tra Chính phủ đối với đồng chí Phạm Thành Ngại và đồng chí Nguyễn Thanh Tuấn.
Interactive: Hà Tĩnh 195 năm hành trình lịch sử và khát vọng phát triển

Interactive: Hà Tĩnh 195 năm hành trình lịch sử và khát vọng phát triển

195 năm hình thành danh xưng (1831 – 2026) và 35 năm tái lập tỉnh (1991 – 2026) là hành trình của một vùng đất giàu truyền thống yêu nước, cách mạng, hiếu học và văn hóa — từ Kinh đô Ngàn Hống thuở xa xưa, qua các thời kỳ đấu tranh kiên cường, đến công cuộc đổi mới, quyết tâm xây dựng Hà Tĩnh phát triển nhanh, bền vững theo hướng công nghiệp hiện đại, tăng trưởng xanh.
Viết tiếp câu chuyện đổi thay trên những miền quê cách mạng

Viết tiếp câu chuyện đổi thay trên những miền quê cách mạng

Trên những miền quê từng là cái nôi của phong trào cách mạng, niềm tự hào về một thời đấu tranh kiên cường đã hòa cùng nhịp phát triển mới. Từ Can Lộc, Việt Xuyên đến những vùng đất giàu dấu ấn lịch sử, diện mạo mới đang hiện hữu, nhiều câu chuyện đổi thay được viết tiếp bằng cách làm mới, hướng đi mới.
Cán bộ cơ sở ở Hà Tĩnh sau sắp xếp (bài cuối): Để bộ máy mới tạo ra năng lực mới

Cán bộ cơ sở ở Hà Tĩnh sau sắp xếp (bài cuối): Để bộ máy mới tạo ra năng lực mới

Quá trình vận hành bộ máy mới giúp Hà Tĩnh nhận diện rõ hơn những vấn đề đặt ra trong công tác cán bộ. Từ công tác tư tưởng, giao việc, chọn người đến rèn luyện, đánh giá cán bộ qua công việc, những bài học từ thực tiễn đang được đúc kết, cụ thể hóa thành các giải pháp căn cơ, hướng tới xây dựng đội ngũ đủ năng lực thực thi, đáp ứng yêu cầu quản trị trong giai đoạn mới.
Cán bộ cơ sở ở Hà Tĩnh sau sắp xếp (bài 3): Chung sức lo việc lớn ở vùng kinh tế động lực

Cán bộ cơ sở ở Hà Tĩnh sau sắp xếp (bài 3): Chung sức lo việc lớn ở vùng kinh tế động lực

Chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành cũng là lúc Khu kinh tế Vũng Áng bước vào một nhịp phát triển mới. Những công trình, nhà máy gấp rút đẩy nhanh tiến độ; hàng nghìn héc-ta mặt bằng phải chuẩn bị, nhiều dự án lớn chờ quỹ đất, hạ tầng. Giữa nhịp chuyển động ấy, cán bộ các xã, phường phía Nam Hà Tĩnh vừa gỡ những “điểm nghẽn” trên các đại công trường, vừa góp phần mở không gian phát triển cho cực tăng trưởng của tỉnh.
 Cán bộ cơ sở ở Hà Tĩnh sau sắp xếp (bài 2): Sát cánh cùng người dân kiến tạo những giá trị mới

Cán bộ cơ sở ở Hà Tĩnh sau sắp xếp (bài 2): Sát cánh cùng người dân kiến tạo những giá trị mới

Cùng với quá trình tổ chức lại bộ máy, một không gian phát triển mới đang mở ra trên nhiều vùng quê Hà Tĩnh. Những tiềm năng, lợi thế được nhìn nhận, tiếp cận trong một không gian mới và rộng lớn hơn. Ở đó, vai trò của đội ngũ cán bộ không chỉ dừng lại ở việc quản lý, điều hành, mà ngày càng rõ nét hơn ở khả năng nhận diện cơ hội, kết nối nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn và đồng hành cùng người dân tạo dựng những giá trị mới.
Giải quyết các vụ việc khách quan, toàn diện, đúng pháp luật

Giải quyết các vụ việc khách quan, toàn diện, đúng pháp luật

Đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Tĩnh đề nghị quá trình giải quyết các vụ việc phải bảo đảm khách quan, toàn diện, đúng pháp luật, có lý, có tình; kết quả phải được thông báo công khai, kịp thời cho công dân.
Đảm bảo tính đồng bộ và khả thi trong sửa đổi các luật lĩnh vực hình sự

Đảm bảo tính đồng bộ và khả thi trong sửa đổi các luật lĩnh vực hình sự

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 20/8, Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh tham gia thảo luận tại tổ số 9 cùng các Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu và TP Cần Thơ về 3 dự án luật: Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi).
Xin chào,
Tôi là Chatbot của
Báo Hà Tĩnh
Hãy hỏi tôi bất kỳ điều gì bạn cần biết về
Báo Hà Tĩnh nhé. Tôi sẵn sàng hỗ trợ!