Thái Kim Đỉnh làm thơ từ rất sớm, từng ký bút danh Vũ Hoàng. Những bài thơ đầu đời mang hơi thở của tuổi trẻ, tình yêu và thời đại chiến tranh; về sau, thơ ông nghiêng nhiều hơn về tự bạch, thơ tự trào.
Dù viết ở chủ đề đề và thể thơ nào, ông vẫn giữ một giọng điệu riêng: chân thành, không lên gân, tha thiết nhưng không ủy mị, đùa vui nhưng phía sau tiếng cười là một cái nhìn từng trải về nhân tình thế thái.
Những bài thơ viết dưới bút danh Vũ Hoàng đưa người đọc về với những năm tháng tuổi trẻ đầy rung động, nơi tình yêu đôi lứa hòa quyện cùng tình quê tha thiết, “Cỏ mật” là một bài thơ như thế.
Tuổi hai mươi, cắt cỏ đồng làng
Túi áo nâu non thường giấu chùm cỏ mật
Biết anh ưa những gì dịu ngọt
Em dành cho anh.
Hình ảnh đồng quê được vẽ nên từ những chi tiết nhỏ bé, thân thuộc: chùm cỏ mật giấu trong túi áo. Cái tình được trao gửi kín đáo, dịu dàng, không cần lời thề hẹn lớn lao. Cỏ mật vừa là mùi hương của đồng làng, vừa là ký hiệu của tình yêu ở lứa tuổi đôi mươi, là quê hương được người lính mang theo khi rời nhà đi kháng chiến.
Lớn lên, anh vào Vệ quốc
Mang trong tâm hồn hương cỏ mật
Mênh mang đồng làng
Sâu kín tình em.
Lúc này, tình riêng đã hòa vào nghĩa lớn. Hương cỏ mật trở thành một thứ hành trang tinh thần, nối người ra trận với người ở lại. Bài thơ vì thế không chỉ có tình yêu nam nữ mà còn có vẻ đẹp của một thế hệ biết đặt tình riêng trong vận mệnh đất nước. Ở điểm này, thơ Vũ Hoàng gặp gỡ mạch thơ kháng chiến giàu tình quê của Trần Hữu Thung, nhất là ở khả năng tìm chất thơ trong những hình ảnh bình dị của đời sống nông thôn.
Tình quê trong thơ Thái Kim Đỉnh không dừng ở hoài niệm. Khi viết về Tường Xá, ông gọi cả một nền văn hóa bằng những món ăn, mùa vụ, câu ví và ký ức tổ tiên:
Ngọt khay là đọi chè đường
Bát canh hến đậm yêu thương ngọt lừ
Hạt ngô đọng sữa tháng tư
Trái dưa làm mật kể từ tháng năm.
Những tiếng “đọi”, “ngọt lừ” đưa lời thơ về đúng âm sắc địa phương, làm cho quê hương hiện lên không phải như một khái niệm trừu tượng mà bằng vị giác, bằng nếp ăn ở và cách nói của người nhà quê. Từ hạt ngô tháng tư, trái dưa tháng năm, câu ví sông La, bài thơ mở rộng dần từ cái ngọt của sản vật đến cái ngọt ngào của tình người, rồi kết tinh trong lời nhắn gửi thế hệ sau:
Con ơi, vị ngọt ông cha
Lọc từ màu mỡ phù sa bãi lầy.
Phù sa ở đây vừa là đất đai vườn tược, vừa là thành quả của công sức, kinh nghiệm và trí tuệ mà các thế hệ trước chắt chiu để lại.
Thái Kim Đỉnh đã đưa phương ngữ Nghệ Tĩnh vào thơ một cách rất tự nhiên, hồn nhiên, không gò ép mà làm cho người đọc dễ nhớ, thuộc lâu, đọc xong phải ngẫm nghĩ, cười thầm. Phương ngữ trong thơ ông là một phần tự nhiên của tư duy và cảm xúc. Những tiếng “đọi”, “nỏ”, “rứa”, “trùng trình”, “hông thâu”… mang theo cả nhịp sống, tính cách và lối ứng xử của người Nghệ: thẳng thắn, bộc trực, chịu thương chịu khó, nhưng cũng giàu óc khôi hài.
Nếu những bài thơ thời trẻ lưu giữ vẻ tinh khôi của tình yêu và lý tưởng, thì những bài thơ tuổi già cho thấy một phẩm chất khác: khả năng tự giễu mình để vượt qua nỗi lo tuổi tác.
Tuổi Dần, tưởng Hổ hóa ra Trâu
Trằn giữa nhân gian đến bạc đầu
Trọ kiếp ách quàng, đè cổ nghẻo
Đò phen cỏ thiếu, đói hông thâu.
(Thơ vui lên lão 90)
Câu thơ mở ra bằng một nghịch lý vui: tuổi Dần vốn gắn với hổ, biểu tượng của sức mạnh, nhưng đời người lại hóa thành con trâu nhẫn nại, kéo cày giữa nhân gian. Chữ “trằn” gợi sự vất vả, nhọc nhằn; tiếng cười vì thế không xóa đi gian lao mà làm cho gian lao trở nên có thể chịu đựng.
Những cách nói đậm phương ngữ ở các câu sau khiến bài thơ có vẻ ngang tàng, dân dã, như lời tự trào của một ông già xứ Nghệ không muốn tô vẽ mình thành bậc cao nhân. Đáng chú ý hơn cả là cách nhà thơ đối diện với cái chết.
Quan tài đóng sẵn mấy năm nay
Huyệt mộ bây giờ cũng đã xây
Việc chết lo rồi thì cứ sống
Bao giờ chán ngấy tớ đi ngay!
(Không đề)
Cái chết vốn là điều dễ dẫn đến bi lụy nhưng với ông lại rất bình thản. Hai câu đầu nói chuyện hậu sự bằng vẻ tỉnh khô; hai câu sau bất ngờ chuyển hướng, thể hiện thái độ rất chủ động trước số phận. Câu “Việc chết lo rồi thì cứ sống” gần như một châm ngôn sống: đã ý thức về giới hạn cuối cùng thì không còn sợ nó nữa. Tiếng cười “tớ đi ngay” vừa bông đùa, vừa biểu hiện một bản lĩnh tinh thần, không né tránh sự thật nhưng cũng không để sự thật ấy làm mất đi niềm vui của cuộc sống.
Tinh thần tự trào này có thể gợi nhớ đến truyền thống thơ trào phúng và thơ tự bạch của các nhà nho xưa, từ Nguyễn Khuyến đến Tú Xương, nhưng sắc thái của Thái Kim Đỉnh ít cay đắng hơn Tú Xương và ít mang nỗi ngậm ngùi thế sự kiểu Nguyễn Khuyến. Thơ ông là tiếng cười của người đã đi qua nhiều biến động, hiểu đời không đơn giản, nhưng vẫn giữ được sự hồn hậu và một khoảng cách hài hước với bản thân.
Bài “Đi đưa ông Huy về, viết chơi”, làm sau khi người bạn tâm giao Võ Hồng Huy qua đời, cũng cho thấy cách ứng xử ấy trước mất mát.
Năm ngoái ông Bân, nay ông Huy
Hai ông dắc chắc đã ra đi
Còn lưa ông Đỉnh trùng trình rứa
Đợi cụ Nam mời, nỏ vội chi.
Cái chết được gọi bằng giọng thân mật, gần như một cuộc chuyện trò giữa những người bạn già. Các tiếng “dắc chắc”, “còn lưa”, “trùng trình”, “nỏ vội chi” vừa tạo tiếng cười, vừa bộc lộ nỗi cô quạnh của người ở lại. Nếu chỉ đọc lướt, ta dễ thấy sự bông đùa; đọc kỹ hơn, sẽ nhận ra phía sau giọng thơ nhẹ tênh là ý thức sâu sắc về sự lần lượt ra đi của một thế hệ bạn bè. Nhà thơ không thể hiện sự tiếc thương trực tiếp mà để nỗi buồn ẩn trong cách nói tỉnh bơ – một lối biểu đạt kín đáo, rất rõ tính cách con người xứ Nghệ.
Vốn uyên bác cổ văn, ông nắm rất vững niêm luật thơ Đường luật nhưng không để nó biến thành sự phô diễn kỹ thuật khô cứng, thể hiện rõ nét trong những bài thơ Xuân.
Trong bài “Sáu mươi tư, tự bạch” ông viết:
“Nhìn ra chẳng dám so người trí
Ngoảnh lại mừng may được chữ tâm
Ví thử luật trời không hiệu lực,
Tiếc gì không phá cái khung trăm!
Bài thơ cho thấy một sự khiêm nhường trong ông: không tự nhận mình là bậc trí giả, chỉ mừng vì còn giữ được chữ tâm. Đó vừa là lời tự kiểm chứng, vừa là một tuyên ngôn đạo đức. Câu kết “Tiếc gì không phá cái khung trăm!” tạo một cú xoay thú vị: tuổi tác là cái khung hữu hạn nhưng con người vẫn có thể đối thoại với nó bằng tinh thần không chịu đầu hàng.
Trong “Độc thoại”, ông viết:
Cơm rau ba chuyến còn nhai ưởn
Sách bộ nghìn trang vẫn ngốn bay
… Nam tào nghểnh ngảng cho mươi chuyến
Mình sẽ đi xuyên thế kỷ này.
Đặt cạnh nhau cái ăn đạm bạc và sự ham đọc không biết mệt, với một bên là thân thể già nua, một bên là trí óc vẫn hoạt động mạnh mẽ. Cái dí dỏm nằm ở những động từ như “nhai ưởn”, “ngốn bay”: đọc sách được hình dung như ăn uống, như một nhu cầu tự nhiên của ông. Câu thơ “Mình sẽ đi xuyên thế kỷ này” không chỉ là lời nói vui về tuổi thọ; nó bộc lộ tinh thần sống của một người luôn đọc, viết, trao truyền tri thức.
Lúc còn sống, Thái Kim Đỉnh từng nói thơ có thể dễ bị cuốn vào mục đích tuyên truyền nên về sau ông không đặt thơ ở vị trí trung tâm, ít công bố sáng tác. Điều đó phần nào lý giải vì sao tên tuổi ông được biết đến rộng rãi hơn ở các lĩnh vực văn hóa dân gian, lịch sử, địa chí, danh nhân, danh thắng… Nhưng không nên vì thế mà xem thơ chỉ là phần phụ bên lề.
Thơ ông là nơi lưu giữ một lớp trải nghiệm riêng tư mà các công trình khoa học khó thay thế: tình yêu tuổi trẻ, trách nhiệm công dân, nỗi nhớ quê hương, tỉnh yêu thương của người cha dành cho các con, của người đàn ông với gia đình, cách ông đối thoại với tuổi già, với bạn bè, với cái chết, biết yêu những điều bình dị, biết cười với chính mình, biết gắn bó với cộng đồng…
Năm 2018, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã tập hợp các tác phẩm của ông để xuất bản thành Tuyển tập Thái Kim Đỉnh. Trong Lời giới thiệu tập sách này đã viết: “Là một người uyên bác, thông thạo cổ văn, mảng thơ Đường luật của Thái Kim Đỉnh được viết rất nhuần nhuyễn, chắc chắn, với những nguyên tắc của niêm, luật, không thiên về tả, vịnh mà với chút nghịch ngầm, dí dỏm, đưa đến cho người đọc những tiếng cười nhẹ nhàng, thú vị qua sự diễu mình, diễu đời ý vị sâu xa…”[1]
Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Thái Kim Đỉnh, đọc lại thơ ông, càng kính trọng hơn một con người đa tài, một nhà Nho Hà Tĩnh hiện đại, nhận ra chân dung đầy đặn hơn của “Người đi cùng dân gian”.
Một bài viết ngắn không thể lột tả hết gia tài thơ của ông. Chỉ biết rằng, di sản của Thái Kim Đỉnh sẽ còn mãi với thời gian.
[1]. Thái Kim Đỉnh, Thơ và Tiểu luận, Tuyển tập, Nxb Đại học Vinh, Nghệ An, 2018, tr.10.