Tuyên ngôn Độc lập - khát vọng và ý chí độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam

(Baohatinh.vn) - Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước toàn dân và toàn thế giới về sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Tuyên ngôn Độc lập của Người là bản “Thiên cổ hùng văn” về quyền con người, quyền dân tộc, khẳng định khát vọng và tinh thần đấu tranh kiên cường để giữ vững nền tự do, độc lập ấy.

Tuyên ngôn Độc lập được Bác soạn thảo từ ngày 28/8/1945, tại ngôi nhà 48 Hàng Ngang (Hà Nội) - ngay sau khi Chính phủ lâm thời được thành lập và Người được bầu làm Chủ tịch. Điều kiện lịch sử phức tạp lúc bấy giờ đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóng tuyên bố về nền độc lập của mình trước khi quân Đồng minh đổ bộ vào tước vũ khí của Nhật.

Do suy ngẫm từ lâu nên dù chỉ viết trong thời gian ngắn, nhưng từng ý tứ, từng câu chữ trong Tuyên ngôn Độc lập vẫn vô cùng chặt chẽ, súc tích, đạt đến độ mẫu mực của một văn bản nghị luận chính trị; là áng văn lập quốc vĩ đại, là văn kiện lịch sử vô giá, có giá trị cao về tư tưởng, lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bác Hồ và bản Tuyên ngôn Độc lập (Ảnh đồ họa: Internet)

Bác Hồ và bản Tuyên ngôn Độc lập (Ảnh đồ họa: Internet)

Tuyên ngôn Độc lập trước hết là sự khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Trong Tuyên ngôn Độc lập, tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức sâu sắc về chủ quyền quốc gia, dân tộc. Đó là sự tiếp nối dòng chảy của ý thức sâu sắc về núi sông bờ cõi, về giang sơn Tổ quốc. Những giá trị thiêng liêng này từng được đề cập từ bài thơ Thần (tương truyền của Lý Thường Kiệt) đến áng “thiên cổ hùng văn” Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Nhưng phải đến năm 1945, một tác phẩm chính danh là Tuyên ngôn Độc lập mới được Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, với mục tiêu hướng tới là toàn thể Nhân dân Việt Nam và mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có cả các nước lớn và các thế lực ngoại xâm đang lăm le cướp đi nền độc lập vừa giành được của dân tộc Việt Nam.

Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta, mở ra kỷ nguyên độc lập, phát triển của dân tộc Việt Nam, đồng thời, thể hiện rõ thiện chí hòa bình và quyết tâm sắt đá của Nhân dân quyết bảo vệ nền độc lập vừa mới giành được sau hơn 80 năm dưới ách cai trị của thực dân, phong kiến. Những lời khẳng định đanh thép như lời của non sông, đồng thời như những chân lý của thời đại: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”(1). Tuyên ngôn Độc lập cũng đưa ra lời cảnh báo mạnh mẽ đối với các thế lực thực dân, đế quốc đang âm mưu quay lại xâm lược nước ta: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(2).

tuyen-ngon-doc-lap.jpg
Bản Tuyên ngôn Độc lập bằng 3 thứ tiếng Việt, Anh và Pháp tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng ngày 7/9/1945 trên toàn quốc và Việt Nam Thông tấn xã phát đi toàn thế giới ngày 15/9/1945. (Ảnh: TTXVN phát)

Tuyên ngôn Độc lập còn là sự phát triển tài tình, sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền con người gắn với quyền dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà mở đầu bản Tuyên ngôn, Người trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791). Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ là phát ngôn chính trị đầu tiên xác lập nguyên tắc: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng” với các quyền thiêng liêng, trong đó có “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp tiếp tục mở rộng nguyên lý ấy, khẳng định “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do, bình đẳng về quyền lợi”, từ đó đặt nền tảng cho chủ nghĩa tự do, dân chủ tư sản và nhân quyền phương Tây. Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo không chỉ trích dẫn, mà còn “suy rộng ra” để khẳng định một chân lý có tính cách mạng: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(3).

Đây là cách vận dụng khéo léo, sáng tạo, mang tính tư tưởng sâu sắc: từ quyền con người đến quyền độc lập, quyền tự quyết của các dân tộc. Từ đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng phép lập luận song hành giữa nguyên lý phổ quát và chứng cứ lịch sử để củng cố tính chính đáng cho nền độc lập của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là sự kết hợp giữa lý trí phương Tây và giá trị tinh thần phương Đông, giữa ngôn ngữ ngoại giao quốc tế và trải nghiệm thực tế của một dân tộc thuộc địa. Qua đó, Hồ Chí Minh biến tư tưởng nhân quyền phương Tây thành lý lẽ sắc bén để bảo vệ quyền độc lập, tự do của các dân tộc, điều mà cả 2 bản tuyên ngôn của Mỹ và Pháp đều chưa đề cập rõ ràng. Như vậy, Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn có giá trị thức tỉnh lương tri nhân loại. Nó là minh chứng rằng, quyền con người không chỉ là lý thuyết dành cho những quốc gia đã “phát triển”, mà còn là nhu cầu chính đáng và cấp thiết của các dân tộc bị áp bức, trong bối cảnh phong trào giải phóng dân tộc đang lan rộng ở thế kỷ XX, đặc biệt là sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là một văn bản nghị luận vững chắc về lập luận, lý lẽ, bằng chứng mà còn hết sức gợi cảm, hùng hồn, sáng rõ về ngôn từ. “Và đằng sau những lý lẽ ấy là một tầm tư tưởng, văn hóa lớn, đã tổng kết được trong một văn bản ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết, kinh nghiệm của nhiều thế kỷ đấu tranh vì độc lập, tự do, vì nhân quyền, dân quyền của dân tộc và nhân loại”(4).

Tại một căn phòng ở gác 2 của Ngôi nhà 48 Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản "Tuyên ngôn độc lập", khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)
Tại một căn phòng ở gác 2 của Ngôi nhà 48 Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản "Tuyên ngôn độc lập", khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)

Sau 80 năm, những giá trị bất hủ của Tuyên ngôn Độc lập vẫn có ý nghĩa to lớn, soi sáng con đường đi lên của dân tộc ta trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, phồn vinh. Tuyên ngôn Độc lập thể hiện tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh: kiên trì với lý tưởng độc lập, tự do của dân tộc, vận dụng sáng tạo những giá trị tiến bộ chung của nhân loại, biết phát huy sức mạnh nội lực để khơi dậy sức mạnh to lớn của toàn dân, từ đó vượt qua mọi gian khổ, khó khăn trên con đường phát triển.

------------------------------

-(1), (2), (3). Hồ Chí Minh, Toàn tập (tập 4), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 1, 3.

(4). Nguyễn Đăng Mạnh, “Tuyên ngôn Độc lập”, trong sách: Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001.

Chủ đề CÁCH MẠNG THÁNG 8 VÀ QUỐC KHÁNH 2/9

Đọc thêm

Phát huy vai trò tham mưu chiến lược của Đảng bộ Các cơ quan Đảng tỉnh Hà Tĩnh

Phát huy vai trò tham mưu chiến lược của Đảng bộ Các cơ quan Đảng tỉnh Hà Tĩnh

Đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Bí thư Đảng ủy CCQ Đảng tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu các cơ quan trong đảng bộ phải thực sự là cơ quan tham mưu chiến lược, tham mưu cụ thể cho Tỉnh ủy, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Khơi thông động lực, quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng trên 10%

Khơi thông động lực, quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng trên 10%

Đồng chí Tô Lâm - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Chính phủ khẩn trương xây dựng chương trình hành động thực hiện nhiệm vụ 6 tháng cuối năm; tập trung giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tiếp tục tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên

Tiếp tục tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên

Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Kết luận số 58-KL/TW ngày 26/6/2026 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.
Lấy sản phẩm đầu ra làm thước đo thực hiện Nghị quyết 57

Lấy sản phẩm đầu ra làm thước đo thực hiện Nghị quyết 57

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu các cấp, ngành tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 57 gắn với việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; xác định phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là động lực quan trọng hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Thu hút đầu tư nước ngoài nhằm bổ sung nguồn lực, nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế

Thu hút đầu tư nước ngoài nhằm bổ sung nguồn lực, nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế

Đồng chí Tô Lâm - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 10-NQ/TW là thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực, mà nhằm bổ sung nguồn lực, nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế; không chỉ hướng tới tăng trưởng nhanh mà còn bảo đảm phát triển bền vững, bao trùm và chất lượng cao.
Xin chào,
Tôi là Chatbot của
Báo Hà Tĩnh
Hãy hỏi tôi bất kỳ điều gì bạn cần biết về
Báo Hà Tĩnh nhé. Tôi sẵn sàng hỗ trợ!