Quy định về số lượng cấp phó sau hợp nhất, sáp nhập

(Baohatinh.vn) - Theo Nghị định số 370/2025/NĐ-CP, xác định số lượng cấp phó trong cơ quan, tổ chức phải bảo đảm nguyên tắc số lượng cấp phó trong một tổ chức trực thuộc tối đa không vượt quá số lượng cấp phó của tổ chức cấp trên trực tiếp...

Chính phủ ban hành Nghị định số 370/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và UBND xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

image-7554.jpg
Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động hiệu quả. Ảnh minh họa.

Nghị định số 370/2025/NĐ-CP bổ sung thêm khoản 2a quy định về nguyên tắc tổ chức các cơ quan tại Điều 2 Nghị định số 150/2025/NĐ-CP như sau: "Xác định số lượng cấp phó trong cơ quan, tổ chức phải bảo đảm nguyên tắc số lượng cấp phó trong một tổ chức trực thuộc tối đa không vượt quá số lượng cấp phó của tổ chức cấp trên trực tiếp. Các cơ quan, tổ chức cùng cấp thì số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức không có tổ chức bên trong tối đa không vượt quá số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức có tổ chức bên trong".

Quy định về số lượng cấp phó sau hợp nhất, sáp nhập

Nghị định số 370/2025/NĐ-CP sửa đổi quy định về người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu sở và số lượng cấp phó của các tổ chức thuộc sở như sau:

Tại thời điểm sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thể nhiều hơn số lượng so với quy định. Chậm nhất là 5 năm kể từ ngày quyết định sắp xếp tổ chức bộ máy của cấp có thẩm quyền có hiệu lực, số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sau sắp xếp thực hiện đúng quy định, cụ thể như sau:

1- Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu sở

a) Người đứng đầu sở thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (giám đốc sở) do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và trước pháp luật về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của sở theo quy chế làm việc và phân công của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

b) Cấp phó của người đứng đầu sở thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (phó giám đốc sở) do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm theo đề nghị của giám đốc sở, giúp giám đốc sở thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ cụ thể do giám đốc sở phân công và chịu trách nhiệm trước giám đốc sở và trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ được phân công. Khi giám đốc sở vắng mặt, một phó giám đốc sở được giám đốc sở ủy quyền thay giám đốc sở điều hành các hoạt động của sở. Phó giám đốc sở không kiêm nhiệm người đứng đầu tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc sở, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2- Số lượng phó giám đốc sở

a) Số lượng phó giám đốc sở được bố trí bình quân 3 người/sở;

b) Các sở thực hiện hợp nhất, sáp nhập khi thực hiện hợp nhất, sáp nhập 2 đơn vị hành chính cấp tỉnh thì số lượng phó giám đốc sở được tăng thêm 1 người hoặc khi thực hiện hợp nhất, sáp nhập 3 đơn vị hành chính cấp tỉnh thì số lượng phó giám đốc sở được tăng thêm 2 người so với số lượng phó giám đốc sở quy định tại mục 2a;

c) Trường hợp sở thực hiện hợp nhất, sáp nhập theo quyết định của cấp có thẩm quyền thì số lượng phó giám đốc sở sau hợp nhất, sáp nhập được tăng thêm 1 người;

d) Trường hợp sở thực hiện hợp nhất, sáp nhập theo quyết định của cấp có thẩm quyền và tiếp tục thực hiện hợp nhất, sáp nhập khi thực hiện hợp nhất, sáp nhập 2 đơn vị hành chính cấp tỉnh thì số lượng phó giám đốc sở được tăng thêm 2 người hoặc hợp nhất, sáp nhập 3 đơn vị hành chính cấp tỉnh thì số lượng phó giám đốc sở được tăng thêm 3 người so với số lượng phó giám đốc sở quy định tại mục 2a ở trên;

đ) Trường hợp các sở đặc thù không thực hiện hợp nhất, sáp nhập khi thực hiện hợp nhất, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh thì số lượng phó giám đốc sở thực hiện theo quy định tại mục 2a ở trên;

e) Đối với thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Ngoài tổng số lượng phó giám đốc theo quy định tại điểm a, b, c, d mục 2 thì được tăng thêm không quá 10 phó giám đốc;

g) Căn cứ vào tiêu chí, nguyên tắc xác định số lượng cấp phó quy định tại nghị định này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định tổng số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý và quyết định số lượng cấp phó cụ thể của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị theo thẩm quyền.

3- Số lượng phó trưởng phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc sở

a) Phòng thuộc sở có dưới 10 biên chế công chức được bố trí 1 phó trưởng phòng; có từ 10 đến 14 biên chế công chức được bố trí không quá 2 phó trưởng phòng; có từ 15 biên chế công chức trở lên được bố trí không quá 3 phó trưởng phòng;

b) Các phòng thực hiện hợp nhất, sáp nhập khi thực hiện hợp nhất, sáp nhập các sở theo quy định tại điểm b, c, d mục 2 ở trên thì số lượng phó trưởng phòng được tăng thêm như điều chỉnh đối với số lượng phó giám đốc sở quy định tại điểm b, c, d mục 2 so với số lượng phó trưởng phòng của phòng có số lượng cấp phó cao nhất được xác định theo quy định tại điểm a mục 3.

4- Số lượng phó chánh văn phòng sở được thực hiện như quy định tại mục 3.

5- Số lượng phó chi cục trưởng thuộc sở

a) Chi cục thuộc sở có từ 1 đến 3 phòng và tương đương được bố trí 1 phó chi cục trưởng; không có phòng hoặc có từ 4 phòng và tương đương trở lên được bố trí không quá 2 phó chi cục trưởng;

b) Các chi cục thực hiện hợp nhất, sáp nhập khi thực hiện hợp nhất, sáp nhập các sở theo quy định tại điểm b, c, d mục 2 thì số lượng phó chi cục trưởng được tăng thêm như đối với phó trưởng phòng theo quy định tại điểm b mục 3.

6- Số lượng phó trưởng phòng thuộc chi cục thuộc sở áp dụng theo quy định tại điểm a mục 3. Các phòng thuộc chi cục thuộc sở thực hiện hợp nhất, sáp nhập cùng với việc hợp nhất, sáp nhập sở theo quy định tại điểm b, c, d mục 2 thì số lượng phó trưởng phòng thuộc chi cục thuộc sở sau hợp nhất, sáp nhập được tăng thêm như điều chỉnh đối với số lượng phó giám đốc sở quy định tại điểm b, c, d mục 2 so với số lượng phó trưởng phòng của phòng có số lượng cấp phó cao nhất được xác định theo quy định tại điểm a mục 3.

Phòng chuyên môn cấp xã có con dấu, tài khoản riêng theo quy định

Nghị định số 370/2025/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 11 Nghị định số 150/2025/NĐ-CP quy định về vị trí và chức năng của phòng chuyên môn cấp xã.

Theo quy định mới, phòng là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Phòng có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ được giao; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật”.

Quy định về trưởng phòng và phó trưởng phòng

Nghị định quy định người đứng đầu phòng thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (trưởng phòng) do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và trước pháp luật về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng.

Cấp phó của người đứng đầu phòng thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (phó trưởng phòng) là người giúp trưởng phòng chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước trưởng phòng về nhiệm vụ được phân công. Khi trưởng phòng vắng mặt, phó trưởng phòng được trưởng phòng ủy quyền điều hành các hoạt động của phòng.

Số lượng phó trưởng phòng

a) Số lượng phó trưởng phòng được tính trên nguyên tắc bình quân 2 cấp phó/phòng.

b) Căn cứ quy định trên và số lượng phòng chuyên môn được thành lập, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định cụ thể số lượng phó trưởng phòng của từng phòng chuyên môn thuộc phạm vi quản lý.

Tăng số lượng phòng chuyên môn thuộc UBND cấp xã

Về khung số lượng các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, hiện Nghị định số 150/2025/NĐ-CP quy định khung số lượng các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp xã gồm 3 phòng chuyên môn và trung tâm phục vụ hành chính công. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, có nhiều đề xuất, kiến nghị cần tăng thêm số lượng phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã để kịp thời giải quyết các thủ tục và phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân.

image-1.jpg
Có nhiều đề xuất, kiến nghị cần tăng thêm số lượng phòng chuyên môn thuộc UBND cấp xã. Ảnh minh họa.

Chính vì vậy, Nghị định số 370/2025/NĐ-CP đã quy định: Căn cứ các nhóm ngành, lĩnh vực được quy định tại Điều 15 Nghị định 150/2025/NĐ-CP và các tiêu chí về phân loại đơn vị hành chính, quy mô dân số, diện tích tự nhiên, trình độ phát triển, điều kiện kinh tế - xã hội, phân cấp, phân quyền giữa các cấp chính quyền địa phương và các yếu tố đặc thù của từng loại đơn vị hành chính, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định khung số lượng và tên gọi các phòng chuyên môn được áp dụng tại đơn vị hành chính cấp xã thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm không vượt quá bình quân 4,5 tổ chức (bao gồm: các phòng chuyên môn và Trung tâm Phục vụ hành chính công) trên 1 đơn vị hành chính cấp xã; riêng thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh bảo đảm không vượt quá bình quân 4,7 tổ chức (bao gồm: các phòng chuyên môn và Trung tâm Phục vụ hành chính công) trên 1 đơn vị hành chính cấp xã.

Việc quyết định thành lập các phòng chuyên môn do chính quyền địa phương cấp xã quyết định. Trường hợp các đơn vị hành chính cấp xã không thành lập phòng chuyên môn thì bố trí các công chức chuyên môn để tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực theo quy định.

Trung tâm Phục vụ hành chính công thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Sửa đổi về thẩm quyền của UBND cấp xã

Nghị định số 370/2025/NĐ-CP quy định Ủy ban nhân dân cấp xã trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể phòng chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của pháp luật.

Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng chuyên môn phù hợp với hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bộ quản lý ngành, lĩnh vực; căn cứ số lượng phòng chuyên môn được thành lập và số lượng phó trưởng phòng bình quân của phòng theo quy định, quyết định cụ thể số lượng phó trưởng phòng của từng phòng chuyên môn thuộc phạm vi quản lý.

Ủy quyền thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của pháp luật; hằng năm, báo cáo với Hội đồng nhân dân cấp xã (nếu có), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tình hình tổ chức và hoạt động của phòng chuyên môn.

Điều khoản chuyển tiếp và áp dụng

Nghị định số 370/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.

Nghị định nêu rõ, đối với nội dung điều chuyển chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan liên quan đến thủ tục hành chính thì thực hiện theo nguyên tắc sau:

a) Trường hợp tổ chức, cá nhân đã nộp hồ sơ trước ngày nghị định này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm nộp hồ sơ;

b) Các trường hợp đã được thẩm định, chấp thuận, phê duyệt, cấp giấy chứng nhận, giấy phép, chứng chỉ trước ngày nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục sử dụng theo các văn bản đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, trường hợp có thời hạn thì thực hiện đến khi hết hạn. Trường hợp sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh, gia hạn, cấp lại, thu hồi thì thực hiện theo nhiệm vụ phân công theo quy định tại nghị định này và quy định có liên quan.

Sở đã thực hiện hợp nhất, sáp nhập theo quyết định của cấp có thẩm quyền từ ngày 01/3/2025 thì số lượng phó giám đốc sở thực hiện theo quy định tại điểm c mục 2 ở trên. Sở đã thực hiện hợp nhất, sáp nhập theo quyết định của cấp có thẩm quyền từ ngày 1/3/2025 và tiếp tục thực hiện hợp nhất, sáp nhập khi thực hiện hợp nhất, sáp nhập 2 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên trước ngày nghị định này có hiệu lực thì số lượng phó giám đốc sở được áp dụng theo quy định tại điểm d mục 2 ở trên.

Phòng chuyên môn, nghiệp vụ, chi cục thuộc sở và phòng thuộc chi cục thuộc sở đã thực hiện hợp nhất, sáp nhập theo quyết định của cấp có thẩm quyền từ ngày 1/3/2025 thì số lượng phó trưởng phòng, phó chi cục trưởng, phó trưởng phòng thuộc chi cục thuộc sở được điều chỉnh tăng thêm như quy định tại điểm b mục 3 và mục 6 ở trên. Phòng chuyên môn, nghiệp vụ, chi cục thuộc sở và phòng thuộc chi cục thuộc sở đã thực hiện hợp nhất, sáp nhập theo quyết định của cấp có thẩm quyền từ ngày 1/3/2025 và tiếp tục thực hiện hợp nhất, sáp nhập khi thực hiện hợp nhất, sáp nhập 2 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên trước ngày nghị định này có hiệu lực thì số lượng phó trưởng phòng, phó chi cục trưởng, phó trưởng phòng thuộc chi cục thuộc sở được điều chỉnh tăng thêm như quy định tại điểm b mục 3 và mục 6 ở trên.

Đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, thì tiếp tục rà soát, sắp xếp số lượng cấp phó bảo đảm đến hết năm 2030 số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện đúng theo quy định tại nghị định này.

Chủ đề Chủ trương - Chính sách

Đọc thêm

Chân dung 58 đại biểu HĐND tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2026 - 2031

Chân dung 58 đại biểu HĐND tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2026 - 2031

Ủy ban bầu cử tỉnh Hà Tĩnh vừa ban hành Nghị quyết số 68/NQ-UBBC về việc công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031. Báo và phát thanh truyền hình Hà Tĩnh trân trọng giới thiệu danh sách 58 người trúng cử (xếp theo thứ tự A, B, C...).
Quy trình xử lý phản ánh hiện trường trên ứng dụng i-HaTinh

Quy trình xử lý phản ánh hiện trường trên ứng dụng i-HaTinh

UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quy chế tạm thời quản lý, vận hành, khai thác thử nghiệm Hệ thống thông tin phản ánh hiện trường tỉnh Hà Tĩnh. Theo đó, quy trình xử lý phản ánh hiện trường trên Ứng dụng Công dân số Hà Tĩnh (i-HaTinh) trải qua 5 bước.
Chủ tịch UBND tỉnh tiếp công dân định kỳ tháng 3

Chủ tịch UBND tỉnh tiếp công dân định kỳ tháng 3

Tại phiên tiếp công dân định kỳ tháng 3, Chủ tịch UBND tỉnh Phan Thiên Định yêu cầu đơn vị được giao giải quyết các vụ việc, đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân cần tập trung thực hiện đúng thời hạn, tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật, có báo cáo cụ thể...
34 địa phương đều có trên 99% cử tri đi bỏ phiếu

34 địa phương đều có trên 99% cử tri đi bỏ phiếu

Hội đồng Bầu cử quốc gia thống kê 4 tỉnh, thành phố có tỷ lệ cử tri đi bầu cao nhất gồm: Lào Cai, TP Huế, Tuyên Quang và Vĩnh Long. Toàn bộ 34 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ cử tri đi bầu cử trên 99%.
Lá phiếu - niềm tin và khát vọng dựng xây đất nước

Lá phiếu - niềm tin và khát vọng dựng xây đất nước

Có một ngày hội mà ở đó, hàng triệu trái tim cùng chung một nhịp đập. Trong ngày hội ấy, mọi công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi, không phân biệt già trẻ, gái trai, tôn giáo... đều cầm trên tay lá phiếu, thực hiện quyền và trách nhiệm thiêng liêng của mình với Tổ quốc.
Tinh thần trách nhiệm của cử tri làm nên ngày hội bầu cử

Tinh thần trách nhiệm của cử tri làm nên ngày hội bầu cử

Sáng 15/3, đồng chí Nguyễn Duy Lâm - Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng ban Chỉ đạo bầu cử tỉnh Hà Tĩnh đã tới dự lễ khai mạc và thực hiện quyền bầu cử tại khu vực bỏ phiếu số 10, phường Thành Sen; kiểm tra công tác bầu cử tại xã Cẩm Xuyên.
Mỗi lá phiếu góp phần chọn ra những đại biểu xứng đáng

Mỗi lá phiếu góp phần chọn ra những đại biểu xứng đáng

Sáng 15/3, sau khi dự khai mạc và bầu cử cùng các cử tri tại nơi cư trú, đồng chí Phan Thiên Định – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Trưởng ban Chỉ đạo, Phó Chủ tịch Ủy ban bầu cử tỉnh đi kiểm tra công tác bầu cử tại khu vực bỏ phiếu số 4, 23, 26 ở xã Thạch Hà.
Sẵn sàng cho công tác kiểm phiếu sau khi kết thúc thời gian bầu cử

Sẵn sàng cho công tác kiểm phiếu sau khi kết thúc thời gian bầu cử

Sáng 15/3, đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Chủ tịch Ủy ban bầu cử tỉnh đã tham dự khai mạc bầu cử và thực hiện quyền công dân tại khu vực bỏ phiếu số 6, phường Thành Sen; đồng thời kiểm tra công tác bầu cử tại các phường Thành Sen và Trần Phú.
Toàn cảnh ngày bầu cử ở Hà Tĩnh

Toàn cảnh ngày bầu cử ở Hà Tĩnh

Hà Tĩnh có 968.395 cử tri tham gia bỏ phiếu tại 1.100 khu vực trên toàn tỉnh. Đây là dịp để cử tri thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, lựa chọn những đại biểu tiêu biểu về phẩm chất, năng lực, uy tín, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Mang hòm phiếu đến với những cử tri đặc biệt

Mang hòm phiếu đến với những cử tri đặc biệt

Hòm phiếu lưu động đã được đưa đến Trung tâm Điều dưỡng người có công và Bảo trợ xã hội tỉnh Hà Tĩnh, tạo điều kiện để các cử tri cao tuổi, khó khăn trong đi lại trực tiếp thực hiện quyền bầu cử trong ngày hội của toàn dân.