Do những điều kiện địa - lịch sử đặc thù, quá trình hình thành làng xã và các dòng họ ở Hà Tĩnh mang nhiều nét riêng. Thuở ban đầu, làng xã phần lớn chưa ổn định về địa bàn cư trú và địa giới hành chính, cộng đồng cư dân còn trong quá trình định hình.
Bên cạnh nhóm cư dân bản địa, các dòng họ ở Hà Tĩnh chủ yếu được hình thành từ sự hội tụ của nhiều lớp lưu dân đến khai khẩn, lập nghiệp. Trong bối cảnh dân cư thưa thớt, kinh tế chưa phát triển, chính các di dân đã góp phần quan trọng tạo nên sự cố kết cộng đồng, không bị xem là “dân ngụ cư” với thân phận thấp hơn như ở nhiều vùng đồng bằng Bắc bộ.
Làng xã xưa ở Hà Tĩnh hầu hết đang trong quá trình hoàn thiện địa vực cư trú. Cộng đồng cư dân, trong đó có các họ tộc cũng biến đổi nhiều, đa phần là sự kết hợp giữa nhóm cư dân bản địa đầu tiên với lưu dân từ nơi khác đến. Đối với các địa bàn dân cư đang thưa thớt hoặc làm ăn chưa phát triển, mức độ cố kết cộng đồng chưa cao thì vai trò của các di dân là rất quan trọng, họ không bị coi là dân ngụ cư có thân phận thấp hơn như ở đồng bằng Bắc bộ...
Có thể minh chứng điều này qua việc có nhiều Thành hoàng hoặc những người được dân làng thờ phụng thuộc các họ nhập cư hoặc có công khai khẩn lập làng, bảo vệ, phát triển làng xã. Một đặc điểm khá nổi bật là quá trình hình thành, phát triển của các cự tộc ở Hà Tĩnh cũng kéo theo sự phát triển, thịnh vượng của làng xã. Giai đoạn giữa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX có thể coi là thời kỳ hưng phát nhất của các dòng họ lớn như họ Nguyễn ở Tiên Điền với 3 cha con Nguyễn Nghiễm - Nguyễn Khản - Nguyễn Du; họ Phan Huy ở Thu Hoạch với mấy ông cháu Tiến sĩ Phan Huy Cẩn - Phan Huy Ích - Phan Huy Ôn, Phan Huy Chú; rồi họ Đặng, họ Hà ở Tùng Lộc và Tiên Điền, họ Võ Tá ở Hà Hoàng (nay thuộc phường Trần Phú); họ Ngô ở Trảo Nha; họ Ngụy ở Hoa Viên (Nghi Xuân); họ Phan, họ Hoàng, họ Bùi ở Đức Thọ cũ; họ Nguyễn Khắc ở Gôi Mỹ... Họ Nguyễn Huy thời kỳ này cũng cực thịnh cả về khoa bảng và trước tác văn chương với mấy cha con Thám hoa Nguyễn Huy Oánh - Nguyễn Huy Tự - Nguyễn Huy Hổ... Với sự xuất hiện của nhiều tác gia và tác phẩm của hai dòng họ Nguyễn ở hai phía núi Hồng, từ năm 1943, học giả Hoàng Xuân Hãn đã nêu vấn đề “Hồng Sơn văn phái”…
Sự hưng thịnh của các cự tộc đã tạo nên sự phát triển, nổi tiếng của các làng xã. Trường Lưu thời kỳ giữa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế thế kỷ XIX đã trở thành tâm điểm của văn hóa xứ Nghệ và cả nước. Làng Tiên Điền từ một vùng bãi bồi khuất nẻo (nên được nhiều người chạy loạn tìm về ẩn náu như Nam dương hầu Nguyễn Nhiệm - thủy tổ họ Nguyễn; con cháu của cha con Đặng Tất, Đặng Dung - thủy tổ của chi họ Đặng Nghi Xuân...) đã trở thành “nơi đô hội, phồn hoa” vào hạng nhất, nhì xứ Nghệ. Ngược lại, sự suy tàn hoặc có dính dáng đến chính thể, triều đại của một số vọng tộc cũng khiến cho làng xã bị ảnh hưởng theo.
Các dòng họ lớn ở Hà Tĩnh thường có quan hệ mật thiết với nhau tạo nên sự giao lưu/giao thoa văn hóa giữa các làng xã, vùng miền. Quan hệ dễ thấy nhất là thông gia. Họ Nguyễn Huy từ phương Bắc về định cư ở vùng Trường Lưu cũng có thể xuất phát từ quan hệ này với gia đình tiến sĩ Nguyễn Tâm Hoằng cùng tổng Lai Thạch. Các thế hệ họ Nguyễn Huy quan hệ thông gia với hầu hết các dòng họ lớn trong vùng như họ Nguyễn ở Tiên Điền, họ Dương ở Bạt Trạc, họ Phan ở Vĩnh Gia, họ Nguyễn ở Mật Thiết, Nguyệt Ao...
Họ Nguyễn Tiên Điền cũng vậy, có quan hệ thông gia với họ Đặng, họ Nguyễn Công ở Uy Viễn, họ Trần ở Bắc Ninh, họ Đoàn ở Thái Bình. Họ Lê ở Thuần Thiện (có hai anh tiến sĩ đồng triều Lê Sỹ Triêm, Lê Sỹ Bàng) quan hệ thông gia với họ Hà ở Tĩnh Thạch; họ Ngô - Trảo Nha với họ Ngụy - Hoa Viên... Mối quan hệ này ngoài quan niệm “môn đăng hộ đối” còn thể hiện ý thức về di truyền huyết thống, mong muốn tạo nên nhiều thế hệ người tài. Từ quan hệ thông gia hoặc kết nghĩa đồng môn giữa các cự tộc tạo thành mối quan hệ giao lưu, nhất là về văn hóa giữa các làng xã.
Có một quan hệ khá “đặc biệt” giữa các gia tộc lớn ở Hà Tĩnh đó là việc kết nghĩa, đỡ đầu hoặc nhận làm con nuôi. Qua xem xét gia phả của nhiều cự tộc, có những trùng hợp khá thú vị liên quan đến một nhân vật, là Tiến sĩ Nguyễn Văn Giai (1554-1628) người làng Ích Hậu, huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Đông Kinh), bậc tể phụ triều đình thời Lê trung hưng, dân gian trong vùng quen gọi ông bằng danh xưng vừa nôm na, gần gũi vừa hết sức kính trọng: Cụ Hầu Thượng Ngật.
Ông làm quan trải 3 triều, ngồi ở ghế tể phụ 29 năm, nắm giữ quyền lục bộ 12 năm, có đến hơn 13 vợ với 33 người con (13 trai, 20 gái), có lẽ điều đó đã làm gia đình ông có quan hệ thông gia với nhiều gia tộc lớn trong cả nước. Tuy nhiên, điều đáng nói là nhiều bản gia phả đã không hề giấu giếm việc từ quan hệ thông gia với gia đình ông hoặc được ông nhận làm con nuôi thì con/cháu mới được cất nhắc, vinh hiển. Đó là trường hợp Tiến sĩ Dương Trí Trạch ở Yên Huy (con rể), Tào quận công Ngô Phúc Vạn ở Trảo Nha (con nuôi), họ Lê Sỹ ở Thuần Thiện (đỡ đầu)… Hầu hết những người được “nương bóng” Tể tướng đều thực tài, có chí khí, lại đồng quận; phải chăng đó cũng là sự giao hòa giữa tình cảm thân tộc, đồng hương và một “con mắt xanh” biết đánh giá, trọng dụng hiền tài? Chắc sinh thời Nguyễn Văn Giai đã giúp đỡ, tiến cử khá nhiều người và việc làm của ông cũng rất minh bạch, chính đáng nên gia phả các dòng họ đã không hề phải che giấu?
Cử nhân Lưu Công Đạo, hậu sinh đồng xã với ông trong “Thiên Lộc huyện chí” như có ý lý giải: “Một đời hiển vinh tột bậc mà thiên hạ vẫn cho như vậy không có gì là quá đáng. Ông có những người con nuôi như Thái phó Tào quận công, Thượng thư Hải Thọ hầu nhưng đương thời không cho đó là bè đảng. Ông giết Hùng Lĩnh hầu, đứa con thứ 3 của mình rồi mở tiệc ca hát đến 3 ngày nhưng người đời không cho thế là kiêu mãn. Tuy là bậc hiển quý, nhưng trong các buổi chầu, khi tâu bày việc gì ông không hề quên giọng nói gốc gác của làng quê, triều đình cũng không cho vì thế là cử chỉ thô chướng, khó coi”…
Danh nhân các dòng họ lớn thường sau khi đỗ đạt, làm quan đều về quê trí sĩ hoặc có quan hệ gắn bó với quê hương và chính điều này đã góp phần tạo nên truyền thống hiếu học, trước tác và hệ thống di sản văn hóa khá phong phú của các dòng họ - làng xã ở xứ Nghệ. Những người ra đi các nơi đã mang theo nhiều giá trị văn hóa của các vùng miền về cho quê hương, dòng tộc, đặc biệt là vốn văn hóa bác học ở các trung tâm lớn như Thăng Long, Kinh Bắc, Huế... Khi nhận xét về Phúc Giang thư viện do Nguyễn Huy Oánh sáng lập, GS. Nguyễn Huệ Chi nêu ý kiến: “Ông đã biết cách thu hút tinh hoa văn hóa Thăng Long về Nghệ - Tĩnh và làm cho tinh hoa ấy được nhân lên... Nhìn vào vùng văn hóa Trường Lưu ta vẫn thấy hiện lên 2 sắc thái đối cực: sắc thái văn hóa dân gian như một đặc trưng văn hóa làng xã và sắc thái văn hóa bác học như một xu hướng tích cực phá vỡ hàng rào làng xã, địa phương để đạt đến tầm vóc văn hóa cả nước”. Điều này cũng thể hiện rất rõ với vùng văn hóa Tiên Điền, Tùng Ảnh...
Đặc điểm nữa cũng được biểu hiện khá rõ qua hiện tượng phần lớn các danh nhân người Hà Tĩnh chủ yếu thành danh khi xa quê hoặc được sinh trưởng, thụ hưởng sự giáo dục của gia đình khi tại vị ở các trung tâm văn hóa lớn. Nói như vậy không có nghĩa phủ nhận cái nôi văn hóa ban đầu tại quê nhà.
Do địa vực cư trú của làng xã ở Hà Tĩnh không ổn định kéo dài nên số lượng họ ở mỗi làng xã nhiều hơn so với bình quân của châu thổ Bắc bộ. Các làng xã có thể số tên họ (tộc danh) ít nhưng số lượng họ lại nhiều vì người nhập cư đến từ rất nhiều nơi khác nhau và cũng vì rất nhiều lý do khác nhau. Ví dụ như ở làng Trường Lưu chỉ có 10 tên họ nhưng lại có đến 44 chi phái có nhà thờ riêng. Xã Tùng Ảnh (cũ) chỉ có 13 tên họ nhưng có đến 40 chi phái có nơi thờ tự, tộc trưởng riêng. Họ Phan ở đây có đến 9 dòng khác nhau về nguồn gốc, chí ít là không chung một ông tổ từ khi định cư ở vùng đất này (như Phan Yên Mỹ, Phan Thanh, Phan Tùng Mai, Phan Đình, Phan Duy, Phan Nho, Phan Văn, Phan Trọng, Phan Bá).
Xã Cương Gián (cũ) cũng chỉ có 17 tên họ nhưng đến 57 dòng họ khác nhau về huyết thống. Có khá nhiều họ từ gốc Cương Gián di cư đến các nơi lập nên những vọng tộc mới như họ Nguyễn Đình di cư đến Thượng Xá, Nghệ An, dòng dõi của Cương Quốc công Nguyễn Xí; có người di cư đến xã Nguyệt Ao (Can Lộc cũ) lập nên dòng họ Nguyễn của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723-1804); họ Lê Hữu di cư vào làng Việt Xuyên (Thạch Hà cũ) từ thời Tây Sơn, dòng dõi của Anh hùng Lý Tự Trọng (Lê Hữu Trọng); họ Hồ cũng từ Cương Gián tỏa đi nhiều nơi, trong đó có 12 người vào Quảng Bình từ hơn 200 năm trước lập nên làng Lý Hòa trù phú ngày nay...
Do điều kiện lịch sử - địa lý đặc thù, xa kinh đô, từng là phiên trấn, phên dậu nhiều thời kỳ, có giai đoạn vừa chung biên giới với Chăm Pa, vừa chung biên giới với Chân Lạp..., nên những người đến định cư tại vùng đất này vì rất nhiều nguyên nhân, lý do khác nhau. Điều này cũng góp phần giải thích cho hiện tượng tuy trong một làng có cùng tộc danh nhưng lại thuộc nhiều họ có huyết thống khác nhau (đồng tính không đồng tông); đồng thời cũng tạo nên hiện tượng có nhiều dòng họ không rõ nguồn gốc, xuất xứ, có thể mang tên họ này nhưng nguồn gốc lại thuộc một họ khác. Trong những cuộc “thanh trừng” của nhà Trần đối với con cháu họ Lý, rồi nhà Hồ đối với con cháu nhà Trần, của nhà Lê - Trịnh đối với họ Mạc và những người theo nhà Mạc, và sau này khi loạn lạc Đàng Ngoài - Đàng Trong, khởi nghĩa Tây Sơn, những cuộc đàn áp, truy sát nghĩa quân phong trào Cần Vương, các chiến sĩ cách mạng..., đã có rất nhiều người chọn Hà Tĩnh làm nơi trú ẩn, phải mai danh ẩn tích, thay tên đổi họ. Cũng có một số người bị khép vào trọng tội buộc phải lưu đày hoặc trốn chạy.
Trên vùng đất Hà Tĩnh cũng có khá nhiều hậu duệ các dòng dõi quý tộc thời Trần như Trần Nguyên Hãn, Hoàng hậu Bạch Ngọc Trần Thị Ngọc Hào, Trần Quang Khải… Dòng họ Nguyễn Đức lục chi của nhà dân tộc học trứ danh Từ Chi vừa được kỷ niệm 100 năm ngày sinh vốn gốc họ Trần, có vị tổ là cháu trực hệ của Hoàng giáp Trần Đức Mậu thời Lê, tương truyền là hậu duệ của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải (1241-1294). Thông qua các bản gia phả, cũng thấy rõ nhiều họ có nguồn gốc từ họ Mạc, nhiều nhất là ở họ Thái, họ Phạm, họ Phan...
Dòng họ ở Hà Tĩnh không chỉ giàu về truyền thống khoa bảng, hiếu học tạo nên những làng khoa bảng, văn hiến như Trường Lưu, Tiên Điền, Đông Thái..., còn có những dòng họ mạnh về truyền thống võ công đưa lại cho làng xã những vị thế lớn như họ Phạm ở Kỳ Anh (với Phạm Tiêm, Phạm Hoành...), họ Võ Tá - Hà Hoàng, họ Ngô - Trảo Nha...; cũng có những họ gắn với làng nghề như họ Phạm làm kim hoàn, họ Bùi có nhiều người làm nghề rèn, họ Nguyễn Viết với làng mộc Thái Yên...
Qua dõi theo tiến trình phát triển của một số dòng họ gắn liền với lịch sử làng xã ở Hà Tĩnh, có thể thấy rằng các dòng họ trong quá trình cư trú đã sản sinh, tái tạo và lưu truyền rất nhiều giá trị văn hóa góp phần tạo nên kho tàng di sản văn hóa hết sức phong phú, đa dạng cho vùng đất Hà Tĩnh nói riêng và đất nước nói chung, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của những vọng tộc - những dòng họ văn hiến với những di sản và cá nhân đột khởi đã được nhân loại vinh danh…