“Hãy nhìn lên lá cờ Tổ quốc, ba mẹ sẽ thấy bóng hình con trong đó”
Trong nhịp sống hối hả hôm nay, không ít bạn trẻ chưa thật hiểu rõ lý tưởng cống hiến của cha ông ngày trước. Thậm chí, đó đây còn xuất hiện thái độ xét lại rất nguy hiểm. Thái độ đó phản ánh hai mặt: một mặt, xa rời thực tiễn chiến đấu hy sinh của cha ông; mặt khác, tạo ra những lý luận sáo rỗng và làm tổn thương biết bao xương máu đã đổ xuống vì tình yêu Tổ quốc thiêng liêng.
Giữa những năm tháng đất nước đau thương vì khói lửa chiến tranh, triệu triệu người con đất Việt đã nối nhau lên đường, bỏ lại nỗi nhớ gia đình, quê hương và bao điều dang dở. Cả một thời đại đã sống như thế, bằng lý tưởng cống hiến, hy sinh, đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên chính sự sống của mình. Chính bởi vậy, giữa một đất nước luôn oằn mình trong tang tóc, đau thương nhưng khắp thôn cùng, hẻm núi luôn âm vang bài ca khí thế ra trận.
Hẳn rất nhiều bạn trẻ thời nay không bao giờ hiểu được cả một thế hệ “từ chân lý sinh ra” (Tố Hữu) khi mỗi người là một hoàn cảnh riêng, nhưng đều chung tinh thần đem hết tính mệnh, của cải để bảo vệ Tổ quốc. Bạn trẻ sẽ ít người biết rằng, có những con người cao cả như Chủ tịch TP Hà Nội (bấy giờ là Ủy ban hành chính Hà Nội) Trần Duy Hưng viết thư xin cho 2 con trai nhập ngũ.
Thư ông viết ngày 16/4/1965 (mang số hiệu lưu trữ 135G-65) có đoạn: “Tôi xin gởi tới các đồng chí đơn xin nhập ngũ của 2 con trai tôi, con trai cả là Trần Quốc Ân, 26 tuổi, đảng viên, kỹ sư Tổng cục Địa chất, con trai bé là Trần Thắng Lợi, 16 tuổi, học sinh lớp 9. Các con tôi có khẩn khoản nhiều lần để nói với các đồng chí cho được phục vụ trong hàng ngũ quân đội (…). Vì vậy, tôi rất mong các đồng chí xét đến nguyện vọng tha thiết của các con tôi. Chào quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ!”.
Lại có bức thư người chồng là Bùi Thế Soạn (người Kỳ Anh cũ, nay không rõ địa chỉ cụ thể) gửi vợ là Nguyễn Thị Tần vào ngày 17/10/1966, mà tái hiện cả khung cảnh chung của dân tộc: “Cuộc chống Mỹ cứu nước hiện nay còn gặp nhiều gian khổ, xung quanh anh còn có nhiều lớp người, già có, trẻ có, họ đang hăng say với sự nghiệp đó. Họ ra đi cùng với ước hẹn ngày về thăm quê gặp lại người vợ, người yêu, bố mẹ, con cái. Ai cũng mong sum họp sau này. Khi ấy thì không còn bóng đế quốc Mỹ nữa”. Ta càng hiểu một sự thật về đánh đổi: “Dù rằng đời ta thích hoa hồng/ Kẻ thù buộc ta ôm cây súng” (Diệp Minh Tuyền).
Đặc biệt, trong vô vàn người lính ra trận, có người đã để lại bức thư nói hộ lẽ sống của cả một thế hệ đề cao sự hiến dâng cho Tổ quốc. Người chiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn (SN 1950, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị cũ) biên thư gửi mẹ là Nguyễn Thăng vào ngày 21/1/1970: “Con sẽ phải xa gia đình một thời gian khá dài và không biết ngày nào gặp lại ba mẹ, các em! Ngày ấy là ngày thống nhất Tổ quốc! Đời thanh niên là như vậy, đâu có bom rơi, đạn nổ là xông vào, tìm những nụ cười tươi trong tiếng khóc. Trong cuộc chiến đấu sinh tử một mất một còn giữa ta và địch có thể hy sinh, những đồng chí và người bạn của con có thể nằm lại nơi mảnh đất miền Nam vĩnh viễn, đó là điều tất nhiên…”.
Và rồi, người chiến sĩ ấy đã xác định đúng - như triệu triệu người con của đất nước Việt Nam, khi đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường: “Nếu ngày chiến thắng đến mà con không về nữa, thì mong ba mẹ đừng buồn. Hãy nhìn lên lá cờ Tổ quốc, ba mẹ sẽ thấy bóng hình con trong đó”.
Bác bỏ luận điệu xuyên tạc
“Đường ra trận mùa này đẹp lắm”! Có thật đẹp lắm không khi máu xương là quý nhất trên đời? Không, với ông cha, máu xương là quý nhất, nhưng Tổ quốc còn cao cả hơn hết. Bởi vậy, họ sẵn sàng ra trận và chấp nhận có thể ngày mai sẽ không còn mình nữa.
Trong “Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, ngày 3/11/1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”. Người nhận thấy một lẽ tất yếu: “Tổ quốc đang kêu gọi chúng ta hăng hái tiến lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược! Đế quốc Mỹ nhất định thua! Nhân dân ta nhất định thắng!”.
Lời của Bác là lời hịch, lời hiệu triệu non sông. “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước” đã được thổi bùng thành ngọn lửa đầy hào hùng trong chiến tranh chống Mỹ. Khi chiến tranh đi qua, tất cả các xã, phường trên cả nước đều có tượng đài liệt sỹ. Vậy mà, mới ra khỏi chiến tranh chưa lâu, có những người cầm bút đã đặt câu hỏi về tính thực tiễn “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Thật buồn!
Trong bài báo đăng trên báo Quân đội nhân dân điện tử ngày 9/4/2026, nhan đề “Phê phán khuynh hướng sáng tác lệch lạc làm phương hại nền văn học, nghệ thuật cách mạng”, PGS.TS. Nguyễn Thanh Tú đã chỉ rõ hành động xuyên tạc: “Một số “tác giả” lợi dụng văn học để xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta, coi đó không phải là cuộc đấu tranh chống xâm lược mà chỉ là sự xung đột ý thức hệ giữa “cộng sản” và “tư bản”. Có “nhà văn” cho nhân vật nhại câu thơ nổi tiếng (“Đường ra trận mùa này đẹp lắm” của Phạm Tiến Duật). Lại có “nhà phê bình văn học” lèo lái dư luận bằng cái gọi là “nhận định” tư duy văn học cách mạng 1945-1975 là “tư duy cổ tích”, tức là tư duy không có thật…”.
Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu.
Cùng với thực tế của cả dân tộc, cần nhớ, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã có 14 năm trong quân ngũ, trong đó có 8 năm gắn bó với Trường Sơn và là “chiến sĩ xuất sắc luôn có mặt ở những nơi bom đạn ác liệt nhất”. Câu thơ “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” trong bài thơ “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” được ông viết vào khoảng năm 1969, 1970. Đó là cách làm thơ “rất lính”, nói đúng hơn là “buột miệng” kể chuyện lính - chuyện “Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn”. Đó là tiếng lòng của ông và khí thế của thế hệ ông với “những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến” hướng về giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Hôm nay “Sài Gòn không còn trận tuyến” (mượn từ dùng của một cuốn sách vừa xuất bản), nhưng những ký ức về ngày trọng đại Giải phóng miền Nam năm 1975 vẫn dội về trên mọi nẻo đường của dân tộc. Không có Sài Gòn tháng Tư năm ấy, không thể có Việt Nam hôm nay. Không có thế hệ sẵn sàng ra trận, chấp nhận hy sinh cả tính mệnh của mình, không thể có Việt Nam tiến bước vào kỷ nguyên mới.
Xin ghi nhớ sâu sắc và khắc tạc vào tim mình những câu thơ bất hủ, hiện thân cho sự đánh đổi vô cùng cao cả: “Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/ (Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc)/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?” (Thanh Thảo).