Đồng chí Hồ Tùng Mậu, tên khai sinh là Hồ Bá Cự, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1896 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nay là xã Quỳnh Anh, tỉnh Nghệ An. Đây là vùng quê giàu truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng, nơi sản sinh ra những bậc tiền bối lưu danh sử sách.
Không chỉ chịu ảnh hưởng từ quê hương, tinh thần bất khuất của ông còn được thừa hưởng trực tiếp từ truyền thống gia đình. Ông nội của ông là Phó bảng Hồ Bá Ôn, làm quan đến chức Án sát tỉnh Nam Định và đã anh dũng hy sinh khi đang trực tiếp chỉ huy giữ thành chống thực dân Pháp xâm lược vào năm 1883. Người cha thân yêu của ông là Cử nhân Hồ Bá Kiện, người đã từ khước chốn quan trường để tham gia phong trào Văn thân, sau đó bị thực dân Pháp bắt giam và bắn chết khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa phá ngục tại Nhà tù Lao Bảo.
Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến sự hy sinh oanh liệt của các thế hệ đi trước, Hồ Tùng Mậu sớm nung nấu ý chí lớn và quyết tâm tìm con đường cứu nước. Tháng 4 năm 1920, người thanh niên yêu nước ấy cùng một số đồng chí nơi quê nhà quyết định ra nước ngoài hoạt động cách mạng. Đến năm 1923, tại Trung Quốc, ông cùng những thanh niên cùng chí hướng thành lập Tâm Tâm xã, một tổ chức có xu hướng cách mạng tiến bộ nhằm mục đích đấu tranh giải phóng dân tộc.
Bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động của ông diễn ra vào tháng 11 năm 1924, khi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô tới Quảng Châu. Người đã tiếp xúc và kết nạp một số thành viên tích cực của Tâm Tâm xã vào tổ chức Cộng sản Đoàn để làm hạt nhân thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Từ mối duyên này, Hồ Tùng Mậu được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp đào tạo, huấn luyện theo con đường cách mạng vô sản.
Nhờ sự thông minh, nhạy bén và nhiệt huyết, Hồ Tùng Mậu nhanh chóng trở thành người học trò đắc lực và người cộng sự tin cậy của Nguyễn Ái Quốc trong suốt thời gian Người hoạt động tại Quảng Châu. Tiếp nhận ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, ông dồn hết tâm trí và nghị lực để phụ trách tổ chức các lớp huấn luyện chính trị đặc biệt, làm trợ giảng, dịch thuật tài liệu và hướng dẫn học viên thảo luận. Bên cạnh đó, ông còn tích cực tham gia xuất bản tờ tuần báo Thanh niên, dự thảo Điều lệ Hội và làm Ủy viên ngoại giao của Chi hội Việt Nam trong Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.
Tại Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vào tháng 5 năm 1929, ông được bầu làm Ủy viên chính thức của Tổng bộ Hội. Cuối năm đó, ông gia nhập An Nam Cộng sản Đảng và tích cực vận động cho sự hợp nhất các tổ chức cộng sản. Đến mùa Xuân năm 1930, khi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Hồ Tùng Mậu vinh dự đảm nhận trọng trách làm người giúp việc và thư ký của Hội nghị, đóng góp công lao to lớn vào việc chấm dứt cuộc khủng hoảng tổ chức lãnh đạo cách mạng nước nhà.
Bản lĩnh của người cộng sản Hồ Tùng Mậu không chỉ tỏa sáng trong các hoạt động sôi nổi ở nước ngoài mà còn được thử thách khắc nghiệt qua chặng đường hơn 14 năm bị giam cầm trong lao tù đế quốc. Tháng 6 năm 1931, khi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Hồng Kông bắt giữ, chính đồng chí Hồ Tùng Mậu đã mưu trí liên hệ với Hội Quốc tế Cứu tế Đỏ và mời luật sư Loseby bào chữa cho Người. Hành động này khiến ông bị nhà cầm quyền Hồng Kông bắt giam và trục xuất sau đó. Ngay khi vừa đặt chân đến Thượng Hải vào ngày 30 tháng 6 năm 1931, ông bị mật thám Pháp bắt giải về Việt Nam và kết án tù chung thân.
Trải qua các địa ngục trần gian từ nhà tù Hỏa Lò, nhà lao Kon Tum đến nhà đày Buôn Ma Thuột từ năm 1933 đến năm 1941, ông vẫn luôn giữ vững khí tiết kiên trung. Ông trở thành trung tâm đoàn kết, lãnh đạo anh em tù chính trị giữ nghiêm kỷ luật, khôn khéo đấu tranh đòi cải thiện đời sống và biến nhà tù đế quốc thành trường học lý luận cách mạng.
Sau khi được trả tự do và thoát khỏi sự quản thúc, đồng chí Hồ Tùng Mậu lập tức bắt liên lạc với Đảng, tích cực tham gia chuẩn bị lực lượng cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và đóng góp vào thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, tài năng lãnh đạo của ông ngày càng được khẳng định trên nhiều lĩnh vực quan trọng.
Năm 1946, ông được giao phụ trách và kiêm Chính ủy Trường Quân chính ở Nhượng Bạn, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo hàng trăm cán bộ quân sự cho lực lượng Vệ quốc đoàn. Cuối năm 1946, ông được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu IV, đồng thời là Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy. Trên cương vị này, ông đã sâu sát thực tế, củng cố tổ chức bộ máy, kiện toàn lề lối làm việc và chỉ đạo quân dân chuẩn bị các điều kiện sẵn sàng chiến đấu.
Đặc biệt, vào ngày 18 tháng 12 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra Chính phủ và cử đồng chí Hồ Tùng Mậu giữ chức Tổng Thanh tra. Đảm nhiệm trọng trách này, ông đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng hệ thống lý luận của ngành Thanh tra Việt Nam. Với tinh thần tận tụy và công tâm, ông trực tiếp chỉ đạo xử lý nghiêm minh nhiều vụ việc tiêu cực, tham ô lớn, điển hình như sai phạm về tín dụng sản xuất ở Liên khu III hay vụ án Trần Dụ Châu biển thủ công quỹ trong quân đội.
Những đợt kiểm tra sâu sát, thấu tình đạt lý của ông đã góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước, củng cố niềm tin vững chắc của Nhân dân đối với Đảng và Chính phủ. Bên cạnh đó, đầu năm 1950, ông còn được phân công làm Hội trưởng đầu tiên của Hội Việt - Hoa hữu nghị, nêu cao tinh thần quốc tế vô sản trong sáng để thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước. Đến tháng 2 năm 1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, ông vinh dự được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Khi sự nghiệp cách mạng đang ở độ chín với những cống hiến to lớn, một tổn thất đau thương đã ập đến. Ngày 23 tháng 7 năm 1951, trên đường vào Liên khu IV công tác, tại thị trấn Còng, tỉnh Thanh Hóa, đồng chí Hồ Tùng Mậu bị máy bay địch phát hiện, đuổi bắn và đã anh dũng hy sinh. Sự ra đi của ông để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng và toàn dân. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm Trưởng ban Lễ tang và đọc điếu văn tiễn biệt người học trò, người cộng sự thân thiết của mình.
Với 55 tuổi đời và hơn 30 năm hoạt động cách mạng gian khổ, ông đã hiến dâng trọn vẹn trí tuệ và cuộc sống cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ghi nhận những công lao và phẩm chất cao đẹp của ông, Đảng và Nhà nước đã trân trọng trao tặng đồng chí Hồ Tùng Mậu Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Tấm gương về lòng trung thành vô hạn, đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tình yêu thương đồng bào của ông sẽ luôn là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ hôm nay.
Trân trọng quá khứ, tự hào về bước đường cha anh đã đi, thế hệ cán bộ, đảng viên hiện nay nguyện biến quyết tâm chính trị thành chương trình hành động thiết thực, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững và tự tin bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc.
(Nguồn tham khảo: Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Nghệ An)