Những ngày gần đây, thông tin, hình ảnh về bà Nguyễn Thị Lệ (80 tuổi) ở xã Vàm Cỏ, tỉnh Tây Ninh có mặt tại Công viên Lê Thị Riêng (TP Hồ Chí Minh) khi nghe thông tin về liệt sĩ Huỳnh Văn Quên khiến cả nước rưng rưng xúc động. Bà Lệ là người có ước hẹn với liệt sĩ Huỳnh Văn Quên nhưng suốt gần 60 năm đằng đẵng không gặp lại người chiến sĩ giải phóng. Bà chọn ở vậy vì: “Tôi hứa với ai là chỉ một người, dù chết hay sống cũng một người”.
Năm 1977, hai năm sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, gia đình nhận được giấy báo tử của chiến sĩ Huỳnh Văn Quên. Bà Lệ lặn lội tìm đến nhà gia đình ông Quên ở xã Đức Tân, Long An cũ (nay là xã Vàm Cỏ, Tây Ninh) xin được nhận làm con dâu để thay ông gánh vác phần hiếu nghĩa dù chưa một lần cưới hỏi.
Câu chuyện của bà Lệ gợi nhớ hình ảnh của biết bao người vợ, người con gái thủy chung chờ đợi chồng, người yêu trở về sau ngày chiến thắng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, có hàng vạn câu chuyện về tình yêu đẹp đẽ như thế, có câu chuyện được viết thành sách, báo nhưng cũng có những câu chuyện chỉ được người dân kể cho nhau nghe.
“Ngày chiến thắng, anh sẽ tìm em”, “Hòa bình, chúng ta sẽ cưới nhau”, “ Em sẽ chờ anh!”… Đó là những lời hẹn ước đã được giữ trọn trong tim, trở thành niềm tin sắt son. Với người lính, đó là hành trang, động lực trên đường chiến đấu; với người ở hậu phương, đó là niềm hy vọng lớn lao giúp họ có sức mạnh trong lao động sản xuất, công tác, học tập, nuôi dạy con cái, chăm sóc cha mẹ già. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi từng viết: "Anh yêu em như yêu đất nước/ Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần/ Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước/ Mỗi tối anh nằm, mỗi miếng anh ăn/ Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt/ Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời/ Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực/ Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người".
Chờ đợi, giữ trọn lời thề thủy chung son sắt với người lính, biết bao người phụ nữ Việt Nam đã ở vậy thờ chồng, thờ người yêu. Chiến tranh đi qua, họ ngược xuôi mọi nẻo đường tìm hài cốt chồng, hài cốt liệt sĩ là người mình thương yêu.
Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, Hà Tĩnh có hàng vạn nam thanh niên ra mặt trận. Trong số đó, nhiều người đã có vợ, có người yêu. Họ cũng chung lời nguyện ước đến ngày thống nhất non sông sẽ nên duyên vợ chồng hoặc trở về sum họp gia đình. Nhưng, nhiều chiến sĩ mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Biết bao người vợ đã ở vậy thờ chồng nuôi con, chăm sóc mẹ già con dại, tìm kiếm, quy tập mộ chồng về quê.
Bà Nguyễn Thị Từ (87 tuổi, đường Đội Cung, phường Hà Huy Tập, tỉnh Hà Tĩnh) là một trong những trường hợp điển hình. Chồng bà Nguyễn Thị Từ là ông Nguyễn Văn Tập - Đại đội trưởng Đặc công, hy sinh trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968.
Lúc đó, bà Nguyễn Thị Từ chưa đầy 30 tuổi. Một mình bà vừa lo nuôi dạy hai đứa con nhỏ dại nên người, vừa phải đảm đương công việc của một Cửa hàng trưởng Cửa hàng Thương nghiệp thị xã Hà Tĩnh, vừa chăm sóc cha mẹ hai bên, làm tròn vai người chị dâu cả. Sau khi các con khôn lớn trưởng thành, đứa vào đại học ở Hà Nội, đứa đi học nước ngoài, rồi lập gia đình riêng, tuổi xế chiều, bà bắt đầu hành trình đi tìm mộ chồng. Hàng chục năm ròng rã, mình bà vào Nam ra Bắc, lặn lội đi hết các nghĩa trang, bằng mọi giá phải tìm được mộ chồng.
Cuối cùng, nhờ nghị lực và ý chí mạnh mẽ, bà đã tìm được mộ ông ở Nghĩa trang liệt sĩ Hương Điền (Huế). Bà đã cùng gia đình đưa ông về an nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ núi Nài.
Nay tuy tuổi cao sức yếu nhưng bà vẫn còn minh mẫn. Mỗi lần nhắc lại quãng thời gian đi tìm mộ chồng, bà luôn nói: “Tôi không ngại khó khăn, gian khổ, quyết tâm tìm được và đưa ông ấy về lại quê hương, lúc đó tôi mới an lòng”.
Chiến tranh đi qua hơn nửa thế kỷ, đất nước hoà bình độc lập, thịnh vượng và phát triển, màu xanh no ấm đã phủ lên khắp dải non sông. Thế nhưng, đâu đó, nỗi đau chiến tranh vẫn còn âm ỉ trong mỗi nếp nhà, góc phố. Giữa dòng chảy hối hả của cuộc sống, thỉnh thoảng ta lại bắt gặp những bà cụ lặng lẽ ra vào trong căn nhà, ngày ngày thắp hương trên bàn thờ liệt sĩ. Họ một thời là những cô gái tuổi xuân phơi phới, vì lời hẹn ước thuỷ chung đã nguyện ở vậy thờ chồng, thờ người yêu. Mái tóc bạc của họ ánh lên vẻ đẹp cao thượng, trong sáng của tình yêu.
Trong sự chờ đợi ấy có cả trách nhiệm của hậu phương với tiền tuyến, có nghĩa tình đối với những người chiến đấu, hy sinh vì đất nước và khát vọng mãnh liệt ngày hoà bình, có cả tình yêu thương vô bờ bến với những đứa con và cha mẹ chồng. Khi đất nước có giặc, những ứng xử ấy là hoàn toàn tự nhiên, hợp với hoàn cảnh, được người đời kính nể.
Vẻ đẹp tình yêu của phụ nữ Việt Nam thời chiến rất đặc biệt. Đó vừa là giá trị tinh thần to lớn được tạo nên từ cuộc chiến tranh chính nghĩa, vừa là lời nhắc nhở với toàn thế giới: đừng bao giờ để chiến tranh cướp đi tình yêu và hạnh phúc, những điều mà lẽ thường con người phải có được. Vẻ đẹp ấy cũng nhắc nhở thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và mai sau rằng: Chúng ta đang được thừa hưởng hạnh phúc từ sự hy sinh to lớn của các anh hùng, liệt sĩ, cần có nhiều hơn những nghĩa cử tri ân với gia đình các liệt sĩ, thương binh, những người đã cống hiến, hy sinh cho Tổ quốc. Đó là trách nhiệm, tình cảm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc ta.