Dấu son chói lọi, sự kiện mang nhiều ý nghĩa
Sau quá trình đàm phán kéo dài 4 năm 8 tháng 16 ngày với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn và nhiều phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp thế giới, cuối cùng, Hiệp định Paris đã được ký kết tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kleber ở Paris, Pháp.
Theo đó, vào ngày 27/1/1973, Bộ trưởng Ngoại giao 4 bên tham gia đàm phán là bà Nguyễn Thị Bình (đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), ông William P.Rogers (Hoa Kỳ), ông Nguyễn Duy Trinh (đại diện cho Việt Nam Dân chủ cộng hòa) và Nguyễn Văn Lắm (chính quyền Sài Gòn) đã chính thức ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và 4 nghị định thư liên quan.
Hiệp định Paris có 9 chương 23 điều, gồm 4 loại điều khoản chính về: các điều khoản chính trị (Hoa Kỳ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, tôn trọng quyền tự quyết, không tiếp tục dính líu quân sự, không can thiệp công việc nội bộ của nước ta); các điều khoản về quân sự (ngừng bắn, Hoa Kỳ rút hết quân trong 60 ngày, chấm dứt bắn phá miền Bắc); các điều khoản về nội bộ miền Nam (hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ, tổ chức tổng tuyển cử tự do, thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải, hòa hợp dân tộc); các điều khoản về thống nhất Việt Nam, về cơ cấu thi hành Hiệp định Ủy ban Liên hợp và Ủy ban quốc tế, Hội nghị quốc tế xác nhận Hiệp định và điều khoản về việc Hoa Kỳ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh.
Hiệp định Paris ký kết được xem là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Đây là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng nước nhà và đánh dấu bước trưởng thành tột bậc của nền ngoại giao cách mạng thời đại Hồ Chí Minh.
Sự kiện này cũng được xem là bước ngoặt lịch sử, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, phát huy cao độ thắng lợi trên các mặt trận ngoại giao - chính trị - quân sự, kết hợp thành công giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo ra thế và lực mới cho cuộc chiến đấu của dân tộc ta, tạo thế xoay chuyển để giải phóng đất nước.
Văn kiện này cũng được xem là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên, toàn diện nhất, đầy đủ nhất ghi nhận các quyền cơ bản của Nhân dân Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là sự công nhận chính thức của quốc tế đối với nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta.
Đối với thế giới, Hiệp định Paris đã góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng của Nhân dân Lào và Campuchia, mở ra một chương mới ở khu vực Đông Nam Á. Ngoài ra, Hiệp định Paris cũng giúp cổ vũ, củng cố niềm tin của Nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình và nó đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, hòa bình, công lý.
Bước ngoặt để quân và dân Hà Tĩnh đóng góp tích cực vào sự nghiệp chung
Hội nghị Paris kết thúc thắng lợi và Hiệp định Paris là cơ sở để ngày 28/1/1973 lệnh ngừng bắn đã được thực hiện trên toàn miền Nam và buộc Mỹ phải rút toàn bộ quân về nước vào cuối tháng 3/1973. Việc Mỹ phải thực hiện các nội dung ký kết đã tạo cơ hội thuận lợi, tạo bước ngoặt quan trọng cho quân và dân cả nước, trong đó có Hà Tĩnh huy động tối đa sức người, sức của chi viện cho chiến trường miền Nam để lật đổ chính quyền ngụy ở Sài Gòn, thống nhất đất nước.
Được cổ vũ bởi thắng lợi của Hiệp định Paris, quân và dân Hà Tĩnh đã tập trung vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược, huy động và huấn luyện lực lượng, sẵn sàng lên đường đi chiến đấu với khẩu hiệu “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Trong giai đoạn 1973 - 1974, với tinh thần “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Tất cả cho giải phóng hoàn toàn miền Nam”, Hà Tĩnh đã tuyển chọn và điều động 25.523 thanh niên lên đường chiến đấu và kịp thời chi viện cho các chiến trường (Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quân khu 5 và Nam bộ) vượt kế hoạch từ 120-150%, chi viện cho tiền tuyến trên 11.000 tấn lương thực…
Tinh thần thắng lợi trên mặt trận ngoại giao của Hiệp định Paris cũng đã được phát huy rõ nét khi bước vào năm 1975 chiến trường miền Nam có những bước phát triển đột biến, quân và dân ta đã giành thế chủ động trên chiến trường, địch đã bị đẩy vào thế bị động. Trong giai đoạn này, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền nên chỉ trong thời gian ngắn, Hà Tĩnh đã vận động được đội quân ưu tú lên đường giải phóng miền Nam.
Đặc biệt, vào đầu tháng 3/1975, hưởng ứng phong trào “Tất cả vì miền Nam ruột thịt, dồn sức cho chiến trường miền Nam đánh thắng”, quân và dân Hà Tĩnh tập trung huy động lực lượng, phương tiện tốt nhất, chất lượng cao nhất để đưa ra chiến trường. Trên mọi nẻo đường, hàng vạn chiến sĩ, dân quân tự vệ, TNXP, dân công hỏa tuyến và các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia vận chuyển hàng hóa ra mặt trận phục vụ Chiến dịch Hồ Chí Minh và làm nên đại thắng mùa xuân lịch sử năm 1975.
Tận dụng tối đa kết quả thắng lợi trên mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao mà Hiệp định Paris giành được trước đó, con em Hà Tĩnh đã được tiếp thêm quyết tâm, động lực để chiến đấu giải phóng miền Nam và thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả ở Lào và Campuchia những năm sau đó. Trong quá trình chiến đấu, phục vụ chiến đấu, làm nhiệm vụ quốc tế trên nước bạn giai đoạn sau năm 1973, có hàng nghìn người con ưu tú của quê hương đã vĩnh viễn nằm lại trên các chiến trường và hàng chục nghìn người trở về hậu phương mang đầy thương tích.
Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn khẳng định: “Quá trình đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp định Paris là một pho sách vô cùng quý báu về trường phái đối ngoại và ngoại giao Việt Nam với nhiều bài học mãi mãi còn nguyên giá trị, trong đó có những bài học đã trở thành triết lý, quan điểm xuyên suốt đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc ngày nay”.
Phát huy tinh thần chiến thắng Hội nghị Paris và Hiệp định Paris, cả nước nói chung và Hà Tĩnh nói riêng đang tiếp tục lan tỏa ý nghĩa và bài học của sự kiện này đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Đặc biệt là phát huy vai trò, sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận ngoại giao, sự kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế…